Lê Quảng Ba, người đề xuất phương án hạ cứ điểm Đồi A1

Chủ nhật - 02/08/2015 08:41
Lê Quảng Ba sinh ngày 21/4/1915, mất năm 1988. Quê xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông là người đề xuất phương án hạ cứ điểm đồi A1 bằng quả bộc phá trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ảnh: Khối bộc phá gần 1.000 kg làm nổ tung đồi A1 - hiệu lệnh tổng tiến công tại mặt trận Điện Biên Phủ.

Ảnh: Khối bộc phá gần 1.000 kg làm nổ tung đồi A1 - hiệu lệnh tổng tiến công tại mặt trận Điện Biên Phủ.

Tham gia cách mạng từ năm 1915, năm 1931, Lê Quảng Ba được kết nạp vào Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam. Tháng 3 năm 1932 được kết nạp vào Đảng. Ngày 28 tháng 1 năm 1941, ông là một trong những cán bộ đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước lãnh đạo cách mạng. Cuối năm 1941, được cử làm đội trưởng đội du kích tập trung đầu tiên ở Pác Bó, là đội du kích được thành lập theo Chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Aí Quốc. Cuối năm 1944, tham gia việc chuẩn bị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. 
 
Ông được Đảng, Bác Hồ cử làm Trưởng ban Quân sự Liên tỉnh Cao – Bắc - Lạng. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, được giao nhiều trọng trách ở những địa bàn phức tạp. Tư lệnh Liên Khu I (1946), Khu trưởng Đặc khu Hà Nội và Khu trưởng Khu 12. Năm 1949, được cử làm Tư lệnh Khu Thập Vạn Đại Sơn giúp Trung Quốc tiêu diệt quân Tưởng Giới Thạch. Khi thành lập các đại đoàn quân, Lê Quảng Ba là một trong những Đại đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
 
Trong quá trình chỉ đạo chuẩn bị đợt tấn công thứ 3 của Chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng với việc giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 chiếm thêm một số cứ điểm phía Tây và phía Đông, tiêu diệt thêm sinh lực địch, thu hẹp hơn nữa phạm vi chiếm đóng của chúng, tạo điều kiện cho quân ta chuyển sang tổng công kích, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh nhiệm vụ của Đại đoàn 316 là phải tiêu diệt các cứ điểm A1, C1 và C2 chưa hoàn thành trong đợt 2.
 
Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba rất phấn khởi khi nhiệm vụ quan trọng này lại được Bộ Chỉ huy giao cho Đại đoàn 316. Lê Quảng Ba đã có dịp thổ lộ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Báo cáo anh, từ sau trận đánh bất thành của 174 (và của cả 102), A1 đã trở thành điểm nhức nhối đối với chúng tôi suốt một tháng qua”.
 
Lê Quảng Ba đã tìm gặp đồng bào địa phương để tìm hiểu cái gọi là “hầm ngầm” trên đồi A1. Có thể đó là căn hầm trước đây quân Nhật xây để tránh máy bay quân đồng minh, được quân Pháp cải tạo thành hầm ngầm với lớp đất dầy bên trên nên khá kiên cố. Chính vì thế, quân ta đã tổ chức nhiều lần tấn công và thương vong không ít mà vẫn chưa đánh chiếm được. Trước nhiệm vụ nặng nề và quan trọng mà Đại tướng giao, Lê Quảng Ba cùng Chính uỷ Chu Huy Mân trao đổi và thống nhất đề đạt với cấp trên về cách đánh cứ điểm A1.
 
Giữa tháng 4/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng Chiến dịch đã dành thời gian nghe Đại đoàn trưởng 316 Lê Quảng Ba báo cáo về “chiếc hầm kiên cố’ trên đỉnh A1 “và đề đạt phương án đào hầm vào thẳng “ruột” điểm cao A1, đưa một lượng bộc phá lớn vào” để công phá cứ điểm quan trọng này. Việc đào đường hầm dự kiến phải mất chừng nửa tháng. Trung đoàn trưởng công binh Phạm Hoàng hứa với Bộ Chỉ huy Chiến dịch sẽ cử cán bộ xuống hỗ trợ kỹ thuật sao cho đúng hướng, đặc biệt là sẽ kiếm đủ lượng thuốc nổ cho Đại đoàn 316… 
 
Khi thông qua kế hoạch đánh cứ điểm A1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc Đại đoàn trưởng 316  Lê Quảng Ba chú ý đào một đường hào men theo đường số 41, giữa A1 và A3, cắt đứt đường tăng viện và phản kích của địch. Ông nhấn mạnh: 174 chỉ bắt đầu tiến công khi việc chuẩn bị đường hầm xuyên vào ruột A1 cũng như đường hào cắt rời A1 và A3 đã đào xong.
 
Do những khó khăn không lường trước được nên đến ngày 1/5/1954, đường hầm A1 vẫn chưa hoàn thành, cán bộ, chiến sĩ càng quyết tâm hơn. Chỉ huy trưởng ra lệnh bắt đầu tấn công đợt 3. Trước thất bại không thể tránh khỏi, ngày 4/5/1954, Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ -  tướng Đờ Caxtơri được thông báo sẽ tăng viện để “mở một đường máu” chạy sang Thượng Lào. Chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ quyết định sẽ dùng số quân được tăng viện để thay quân và củng cố thế bố trí trên cứ điểm A1 - chỗ dựa cuối cùng để tồn tại, đồng thời nhanh chóng “xốc” lại lực lượng còn chiến đấu được để phá vây vào đêm 7/5/1954.
 
Ngày 6/5/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được báo cáo: Hầm xuyên vào lòng đất cứ điểm A1 đã hoàn thành, thuốc nổ đang được vận chuyển vào. Như vậy là trải qua hơn nửa tháng, gần 30 cán bộ, chiến sĩ đã đào hầm ngay trong tầm súng và lựu đạn của địch. Anh em đã vượt qua khó khăn tưởng chừng như không vượt nổi để có ánh sáng và dưỡng khí, để đào đúng hướng, vì càng vào sâu từ trường bị nhiễm, không dùng được địa bàn, có đoạn vừa đất vừa đá và cứng nên rất khó đào, nhất là để giữ bí mật chủ trương tác chiến và phải sẵn sàng chiến đấu chặn địch từ trên đỉnh đồi tràn xuống cửa hầm. Cũng trưa ngày 6/5/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên núi phía sau Chỉ huy sở Mường Phăng, dùng ống nhòm quan sát chiến trường trước khi ra lệnh tổng công kích. Từ hướng Đông có tin báo cáo về mọi sự chuẩn bị chiến đấu trên cứ điểm A1 - “cái đinh của tập đoàn cứ điểm” - đã hoàn tất. Đại tướng được báo cáo rằng khối bộc phá chừng 1.000 kg sẽ gây nên một tiếng nổ làm hiệu lệnh cho toàn mặt trận.
 
Sau khi nghe các báo cáo tình hình chuẩn bị chiến đấu của các đơn vị. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết mệnh lệnh tổng công kích.
 
"Mệnh Lệnh"
 
1. Thời gian quy định 8 giờ 30, không được chậm.
 
2. Đến 8 giờ 30 thì:
 
a. Đồi A1 bộc phá;
 
b, Pháo và H6 bắn tập kích lần thứ nhất;
 
c, Bộ binh các hướng đều xung phong;
 
d, Hang Cang lập tức áp chế pháo địch.
 
3. Các nơi phải lấy giờ cho đúng.
 
8 giờ 15
 
Ngọc
 
 Vào khoảng 20 giờ 30 phút đêm 6/5/1954 phát ra tiếng nổ, khói phụt lên cao và tạo nên cảm giác như động đất nhẹ trong vài giây. Một sĩ quan Pháp (Erwan Bergot) - tác giả cuốn sách 170 ngày của Điện Biên Phủ đã kể lại: “Mọi người nghe thấy một tiếng gì đó như sấm dưới chân, làm rung chuyển đất ở trong lòng đỉnh đồi. Tiếng sấm rền lan rộng. Mặt đất trồi lên đột ngột như nắp vung chiếc nồi hơi. Một thứ hơi nóng lan ra, những tảng đất nặng hàng tấn, quyện trong những dòng thác lũ lửa bị hất tung lên cao. Đỉnh đồi Eliane 2 (A1) vụt biến đi như bị núi lửa phá. Những tảng đất, những mảnh xác người, những mảnh kim loại, đá sỏi, bê tông rơi xuống tới tấp”. 
 
Lợi dụng lúc địch choáng váng, sau đợt áp chế ngắn của pháo binh ta, Trung đoàn 174 từ hai hướng tây nam và đông nam xung phong lên cứ điểm. Bị dồn ép từ hai gọng kìm, bọn địch sống sót ở A1 ngoan cố dựa vào một số công sự chống trả, nhưng không có quân tăng viện nên yếu dần, vì vậy ngay trong đêm đã bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn. Quân ta đã tiêu diệt cứ điểm cuối cùng hoàn thành nhiệm vụ còn lại từ đợt 2, làm chủ khu lá chắn phía đông, quân ta đã tạo nên một cục diện hoàn toàn ở phân khu trung tâm kể cả Sở Chỉ huy của tướng Đờ Caxtơri, đã bị đặt dưới tầm hoả lực bắn thẳng của quân ta. Giờ cáo chung của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã đến.  Lê Quảng Ba là Tư lệnh Liên Khu Việt Bắc (1955 - 1960), được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Lê Quảng Ba được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử làm Trưởng ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Chính phủ.

Tác giả bài viết: Đinh Ngọc Viện (baocaobang.vn)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
DDHCM
Xây dựng nông thôn mới
Báo Cao Bằng Online
Cao Bằng Portal

Thống kê truy cập

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 7


Hôm nayHôm nay : 1382

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 56325

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2391034