Lịch sử Đảng bộ huyện Hà Quảng 1930 - 2010

Thứ ba - 26/04/2022 18:16
LỜI NÓI ĐẦU
Hà Quảng là địa danh nổi tiếng nằmở biên giới Đông Bắc của Tổ quốc. Vùng đất Hà Quảng từ khi hình thành đến nay gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử trọngđại của đất nước. Nhân dân các dân tộc Hà Quảng với tinh thần yêu nước nồng nàn, cần cù, chăm chỉ lao động đã góp phần xứng đáng công sức của mình vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ khi có Đảng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Hà Quảng cùng với nhân dân cả nước đã trải qua 80 năm tranh đấu, xây dựng. Trong suốt chặng đường cách mạng đó, bằng xương máu và mồ hôi, bằng trí tuệ và nhiệt tình cách mạng, các dân tộc anh em huyện nhà đã chung sức, chung lòng, kiên cường hy sinh, phấn đấu, giành nhiều thắng lợi to lớn, làm rạng rỡ tên tuổi mảnh đất địa đầu Tổ quốc và làm sáng ngời truyền thống quê hương.
Những thắng lợi quan trọng mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hà Quảng giành được trong thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI đã minh chứng hùng hồn thêm vai trò lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Chặng đường lịch sử 80 năm qua là một giai đoạn vô cùng phong phú, sinh động của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hà Quảng. Chủ trương nghiên cứu, biên soạn cuốn "Lịch sử Đảng bộ huyện Hà Quảng (1930 - 2010)" nhằm góp phần làm rõ sự ra đời, các chặng đường lịch sử đấu tranh oanh liệt, những thắng lợi và thành tích, những kinh nghiệm bài học, truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Hà Quảng.
Cuốn lịch sử này là kết quả sưu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu của cán bộ địa phương dưới sự chỉ đạo, giúp đỡ của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Cao Bằng, và sự cộng tác nhiệt tình của cán bộ giảng dạy khoa Lịch sử trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Đại học quốc gia Hà Nội). Trên cơ sở kế thừa và nâng cao cuốn "Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Hà Quảng (1930 - 1945)" (xuất bản năm 1988), theo yêu cầu của Huyện uỷ Hà Quảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, khoa Lịch sử trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã biên soạn hoàn chỉnh để cuốn "Lịch sử Đảng bộ huyện Hà Quảng (1930 - 2010)" ra đời vào đúng dịp Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI.
Thay mặt Đảng bộ và nhân dân trong huyện, chúng tôi chân thành cảm ơn các đồng chí lão thành cách mạng đã đóng góp nhiều tư liệu quý cho cuốn Lịch sử, cảm ơn sự quan tâm của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Cao Bằng, cảm ơn sự cộng tác nhiệt tình và ý thức trách nhiệm rất cao của khoa Lịch sử, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Dù ban biên soạn đãcố gắng, nhưng cuốn lịch sử cũng chưa thể nào phản ánh được đầy đủ những sự kiện sinh động, những nỗ lực lớn lao của cán bộ và quần chúng trong những năm tháng hào hùng. Lại do tư liệu thiếu, thời gian nghiên cứu, biên soạn ngắn, nội dung phải chuyển tải cả một giai đoạn lịch sử dài và đề cập toàn diện tất cả các lĩnh vực. Chắc chắn cuốn lịch sử này còn những thiếu sót, hạn chế khó tránh khỏi. Tha thiết mong các cán bộ, đảng viên và nhân dân toàn huyện cùng bạn đọc gần, xa đóng góp ý kiến để cuốn "Lịch sử Đảng bộ huyện Hà Quảng (1930 - 2010)" tái bản lần sau phong phú, hoàn chỉnh hơn.
 
  T.M BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN HÀ QUẢNG
Bí thư


Triệu Đình Lê
 
Phần mở đầu:

KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI HÀ QUẢNG
 
Hà Quảng là huyện miền núi biên giới nằm ở phía Bắc tỉnh Cao Bằng, trung tâm huyện lỵ cách thị xã Cao Bằng 45 km về hướng bắc theo hướng tỉnh lộ 203, có toạ độ địa lý: từ 22047'23" đến 23000'00'' vĩ bắc (từ Làng Mòn, Hạ Thôn đến Nặm Sấn, Lũng Nặm); từ 105057'14" đến 106015'50" kinh đông (từ Lũng Pươi, Sóc Hà đến Ngườm Luông, Tổng Cọt). Phía bắc giáp Trung Quốc, có cửa khẩu Sóc Giang thuộc xã Sóc Hà; phía nam giáp huyện Hoà An, phía đông giáp huyện Trà Lĩnh và phía tây giáp huyện Thông Nông. Tổng diện tích tự nhiên: 453,67 km2. Do kiến tạo địa chất, địa hình huyện Hà Quảng khá phức tạp tạo nên hai tiểu vùng chủ yếu: tiểu vùng thấp và tiểu vùng cao.
- Tiểu vùng thấp có thị trấn Xuân Hoà và 6 xã: Trường Hà, Sóc Hà, Nà Sác, Quý Quân, Phù Ngọc, Đào Ngạn. Đây là vùng có các thung lũng tương đối bằng phẳng, đất canh tác chủ yếu là đất trồng lúa, có hệ thống sông suối cơ bản đáp ứng được nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
- Tiểu vùng cao gồm 12 xã, hầu như không có sông suối, nước cho sản xuất và sinh hoạt đều phụ thuộc vào nước mưa. Đất canh tác chủ yếu là đất trồng ngô và hoa màu, kết cấu hạ tầng còn thiếu, hệ thống đường giao thông chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hoá của nhân dân.
Đất Hà Quảng ngày nay làmột phần châu Thạch Lâm xưa, châu Thạch Lâm từ đời Lý, Trần có 14 tổng, 133 xã, thôn, phủ, trại, động. Hà Quảng ngày nay là địa phận của 4 tổng: Hà Quảng, Phù Đúng, Hoa Phố, Thông Nông.
Khoảng cuối năm 1893, thực dân Pháp đã tổ chức lại các đơn vị hành chính: tách các tổng Tràng An, Phù Đúng, Trà An, Hà Quảng và tổng Thông Nông của huyện Thạch Lâm, lập thành châu Hà Quảng; gồm có các xã: Hà Quảng, Quảng Trù, Minh Luân, Xuân Trù, Sóc Hồng, Nà Sác, Phồn Đông, Hà Gian, Phù Đúng, Ngọc Phô, Đào Ngạn, Phù Tang, Trường Hà, Hoà Mục, Xuân Nông, Xuân Đào, Kim Phố, Cảnh Biên, Lũng Luông, Kéo Đắc, Thôn Nậm, Nhũng Lũng, Lập An, Thông Nông, Thông Sơn, Lạng Năng, Đa Năng, Lạng Y, Trọng Khôn, An Dương, Lang Cơn, thôn Cáp Nà và xã Bình Lãng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, châu Hà Quảng đổi tên là huyện Hà Quảng và đổi tên các xã thành tên gọi theo các đơn vị hành chính xã như hiện nay.
Năm 1965[1], sáp nhập xã Quang Vinh thuộc huyện Hà Quảng vào huyện Trà Lĩnh và sáp nhập xã Yên Sơn thuộc huyện Nguyên Bình vào huyện Hà Quảng; Chia xã Ngoại Trung thuộc huyện Hà Quảng thành 4 xã Cô Mười, Tổng Cọt, Sỹ Hai và xã Hồng Sỹ.
Năm 1966, chia huyện Hà Quảng thành hai huyện Hà Quảng và Thông Nông[2]:
- Huyện Hà Quảng gồm có 20 xã là: Cải Viên, Đào Ngạn, Hạ Thôn, Kéo Yên, Lũng Nặm, Cô Mười, Tổng Cọt, Sỹ Hai, Mã Ba, Nà Sác, Nội Thôn, Phù Ngọc, Hồng Sỹ, Quý Quân, Sóc Hà, Thượng Thôn, Trường Hà, Vân An, Xuân Hoà, Yên Lũng.
- Huyện Thông Nông gồm có 8 xã là: Đa Thông, Lương Thông, Cần Yên, Lương Can, Thanh Long, Ngọc Động, Bình Lãng và Yên Sơn.
Năm 1981:Sáp nhập xã Cô Mười vào huyện Trà Lĩnh[3]; Điều chỉnh địa giới hành chính một số xã của huyện Hà Quảng: xã Nội Thôn, Cải Viên, Vân An, Kéo Yên, Thượng Thôn, Lũng Nặm, Nà Sác, Xuân Hoà.
Ngày 27-10-2006, Chính phủ ra Nghị định số 125 về điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập thị trấn Xuân Hoà và xã Vần Dính. Từ năm 2007, huyện Hà Quảng có 19 đơn vị hành chính xã, đó là thị trấn Xuân Hoà và các xã: Phù Ngọc, Quý Quân, Sóc Hà, Tổng Cọt, Vân An, Trường Hà, Kéo Yên, Thượng Thôn, Lũng Nặm, Nà Sác, Hạ Thôn, Cải Viên, Nội Thôn, Sỹ Hai, Đào Ngạn, Mã Ba, Hồng Sỹ, Vần Dính; trong đó có 9 xã biên giới. Sau khi hoàn thành phân giới cắm mốc, tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc thuộc huyện Hà Quảng có tất cả 100 cột mốc trong đó có 86 mốc chính, 14 mốc phụ từ mốc 638 (xã Sóc Hà) giáp huyện Thông Nông đến mốc 723 (xã Tổng Cọt) giáp huyện Trà Lĩnh với đường biên giới dài 61,7 km.
Năm 2009, dân số huyện Hà Quảng có 33.012 người gồm các dân tộc: Nùng, Tày, Mông, Kinh, Dao, Hoa.
Mật độ dân số của huyện hiện nay là 76 người/km2 (toàn tỉnh là 79 người), phân bố trên lãnh thổ không đều, tâp trung cao ở thị trấn Xuân Hoà và các xã: Phù Ngọc, Đào Ngạn, Xuân Hoà, Cải Viên, Sỹ Hai; các xã có mật độ dân số thấp là: Quý Quân, Trường Hà, Nà Sác, Lũng Nặm, Hạ Thôn… thấp nhất là xã Quý Quân chỉ có 44 người/km2.
Dân tộc Tày, Nùng thường sống quy tụ từng làng bản, ở những vùng thấp hoặc các thung lũng tương đối bằng phẳng. Họ có tập quán canh tác cấy lúa nước, trồng ngô, khoai, sắn, đậu tương, sản xuất mang tính định cư lâu dài.
Người Tày là cư dân bản địa có mặt từ thời kỳ tiền sử. Hiện nay dân tộc Tày gồm các nhánh có tên gọi khác nhau như Tày Đeng, Tày Ngạn, Tày Lưu quan. Các nhóm dân tộc Tày đều cư trú xen kẽ lẫn nhau và sống hoà đồng với các dân tộc khác. Đại đa số cư trú ở vùng thấp và một số ít ở vùng lưng chừng, đồng bào cư trú thành từng xóm khoảng 20 - 30 nóc nhà hoặc 40 - 50 nóc nhà, có nơi đông hơn có thểđến 80 hoặc 100 nhà. Người Tày thường chọn nơi bằng phẳng hoặc gò đồi để dựng nhà lập thành làng xóm, theo truyền thống, đồng bào thường đặt tên làng bản theo phong cảnh tự nhiên như làng Pác Bó - là nơi nguồn nước, Phja Đán là nơi cạnh núi đá. Song tên gọi được người Tày dùng nhiều hơn là đặt tên gắn liền với tên "Nà" tức là cánh đồng, đây là tên gọi khá phổ biến ở vùng đồng như Nà Xả, Nà Rẳc, Nà Dảo, Nà Giàng… Nhiều tên làng bản của người Tày gắn liền với quá trình hình thành lịch sử và đời sống của đồng bào từ ngàn đời nay.
Dân tộc Nùng ở Hà Quảng có các nhóm Nùng Giang, Nùng Xuồng (Nùng Xuổng), Nùng Vẻn (Nùng Sẻng, Nùng Ếnh), Nùng Cháo, Nùng Lòi, Nùng Mấn, Nung Inh… mặc dù có nhiều nhóm khác nhau, nhưng từ xưa đến nay các nhóm Nùng đều cư trú xen kẽ với nhau và có xóm chỉ có dân tộc Nùng cư trú như ở vùng cao Lục Khu. Những làng bản của người Nùng được hình thành từng cụm dân cưở bên cạnh sườn đồi, chân núiđá. Đạiđa số đồng bào ở nhà sàn - là kiểu nhà truyền thống, người ở trên sàn, gầm sàn thườngđể gia súc, gia cầm. Nay đã có một số thay đổi, một sốđã chuyển gia súc ra ngoài.
Dân tộc Mông thường sống ở vùng đồi núi cao, hoặc các thung lũng, sống bằng nghề phát nương làm rẫy, trồng ngô và các hoa màu khác. Người Mông có hai ngành chính là Mông Trắng (Mông Đâư) và Mông Hoa (Mông Lềnh). Đồng bào cư trú chủ yếu ở vùng cao Lục Khu, nhà cửa đơn sơ nhưng sống trọng tình nghĩa, cần cù lao động, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống.
Dân tộc Dao ở Hà Quảng chỉ có ngành Dao Đỏ, đồng bào đã cư trú lâu đời ở đây, họ cư trúở vùng cao và vùng lưng chừng, hầu hết ở nhà trệt. Các gia đình thường chung sống với nhau từ 3 - 4 đời, mọi người đều quý trọng nhau. Đồng bào cần cù, chịu khó lao động sản xuất và có nhiều truyền thống tốt đẹp trong ứng xử cũng như trong sản xuất.
 
CHƯƠNG  I

NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC HÀ QUẢNG DƯỚI ÁCH THỐNG TRỊ CỦA THỰC DÂN PHONG KIẾN

I. THỰC DÂN PHÁP ĐÁNH CHIẾM HÀ QUẢNG, THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ, THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÓC LỘT
Cho đến cuối thế kỷ XIX, ách thống trị của giai cấp phong kiến đè nặng lên đời sống của đồng bào các dân tộc Hà Quảng. Chính sách kiềm toả của triều đình phong kiến Trung ương, sự bóc lột tàn tệ của bọn quan lại địa phương; sự cướp phá, quấy nhiễu của bọn thổ phỉ dọc vùng biên giới đã làm cho đời sống của đồng bào các dân tộc Hà Quảng vô cùng điêu đứng. Để bảo tồn sự sống trên một vùng biên ải, trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thiên tai, địch hoạ, đồng bào các dân tộc anh em từ vùng thấp đến vùng cao, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước đã tự rèn luyện cho mình ý chí tự cường và tinh thần bất khuất, chiến thắng mọi thử thách.
Năm 1886, thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm Cao Bằng. Trước nạn ngoại xâm, đồng bào các dân tộc Hà Quảng cùng nhân dân các huyện trong tỉnh đã vùng lên chiến đấu. Ngay khi giặc Pháp đặt chân lên Cao Bằng, để bảo vệ quyền lợi của mình, một số kỳ hào đã tìm cách đánh Pháp. Vượt qua những động cơ riêng tư, nhỏ hẹp của những người khởi xướng, đông đảo quần chúng lao động các dân tộc, từ vùng thấp đến vùng cao, đã hăng hái tham gia các phong trào chống Pháp với mục đích bảo vệ quê hương, làng bản. Cùng với các cuộc nổi dậy khác trong tỉnh, sự quật khởi của đồng bào các dân tộc Hà Quảng đã làm chậm bước xâm lược của Pháp trên vùng đất địa đầu Tổ quốc. Sau gần 10 năm, đến cuối năm 1895, thực dân Pháp mới đặt được ách thống trị của chúng ở Cao Bằng.
Thực dân Pháp đã xây dựng ở đây một bộ máy cai trị đàn áp khá hoàn chỉnh và thực hiện những chính sách bóc lột, đè nén rất tàn bạo, thâm độc.
Triệt để áp dụng chính sách “Dùng người Việt trị người Việt”, thực dân Pháp đã duy trì, củng cố bộ máy chính quyền phong kiến cũ từ châu đến tổng, xã, tuyển chọn những phần tử phản động xuất thân từ những tầng lớp bóc lột đưa vào các chức vụ Tri phủ, Tri châu, Chánh phó tổng, Chánh phó lý… nhằm biến bọn này thành tay sai trung thành, phục vụ đắc lực mưu đồ thống trị của chúng. Ngoài hệ thống này, thực dân Pháp còn đặt ra các chức Quản chiểu, Phó Quản chiểu ở vùng đồng bào Dao, Chánh phó Mán ở vùng đồng bào Mông nhằm tận dụng các thế lực quan lại lâu đời, vốn am hiểu tình hình, đặc điểm, tâm lý các dân tộc vùng cao để dễ bề cai trị.
Tương ứng với bộ máy hành chính tay sai, thực dân Pháp đã lập ra một hệ thống kìm kẹp quân sự dày đặc. Hệ thống quan Ba kiêm đại lý được bố trí đặt ở 6 châu biên giới gồm châu Hà Quảng và 5 châu Phục Hoà, Trùng Khánh, Quảng Uyên, Bảo Lạc, Thạch An, mỗi châu 1 đại đội từ 130 - 150 người. Chúng bố trí một hệ thống đồn bốt ở các nơi trọng yếu như đồn Bó Gai, đồn Tắp Ná, đồn Nặm Nhũng mỗi đồn một trung đội, dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Pháp. Bên cạnhđó, chúng còn bố trí một đại đội lĩnh dõng tập trung ở châu lỵ và các đội lính dõng đặt dưới sự chỉ huy của bọn châu đoàn, tổng đoàn, xã đoàn. Các lực lượng vũ trang này là công cụ kiểm soát, khủng bố của bọn thực dân nhằm bảo vệ, củng cố thế lực thống trị của chúng.
Thông qua bộ máy chính quyền tay sai phản động, thực dân Pháp đã tiến hành hàng loạt các thủ đoạn vừa trắng trợn, vừa tinh vi để áp bức bóc lột đồng bào các dân tộc Hà Quảng
Về mặt chính trị, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách chia rẽ dân tộc. Chúng đề cao một cách hình thức đầy thâm ý dân tộc này, hạ thấp dân tộc kia, dùng người ở vùng thấp lên cai trị người vùng cao, sử dụng lính người dân tộc này đi đàn áp các dân tộc khác…nhằm làm rạn nứt, tổn thương tình đoàn kết giữa các dân tộc, gieo rắc tư tưởng miệt thị, thù địch dân tộc. Dụng ý thâm độc của bọn thực dân là khoét sâu mâu thuẫn giữa các dân tộc ít người (Mông, Dao) với các dân tộc đông người (Tày, Nùng), giữa dân tộc này với dân tộc khác và trong nội bộ từng dân tộc, che dấu bộ mặt thống trị, bóc lột của chúng, làm cho các dân tộc lầm tưởng mình là nạn nhân của dân tộc láng giềng. Với những thủ đoạn xảo quyệt đó, thực dân Pháp hy vọng thủ tiêu sức mạnh và làm lạc hướng mũi nhọn đấu tranh của đồng bào các dân tộc.
Chính sách lừa bịp này được áp dụng song song với các thủ đoạn khủng bố trắng trợn. Bất cứ một hành động phản kháng nào của nhân dân đều bị bộ máy thực dân, phong kiến đàn áp thẳng tay, nhẹ thì bị binh lính đánh đập, nặng thì bị bắt bớ, giam cầm hoặc bắn giết. Với súng đạn, lưỡi lê, nhà tù, thực dân Pháp hy vọng khuất phục được ý chí quật khởi của đồng bào các dân tộc, buộc mọi người cam phận sống cuộc đời nô lệ.
Về mặt kinh tế, thực dân Pháp đã thực hiện những thủ đoạn bóc lột thậm tệ, điển hình là chính sách thuế khoá, phu phen, tạp dịch dã man. Thuế đinh và thuế điền là hai thứ thuế nặng nề nhất đe doạ trực tiếp đời sống đồng bào các dân tộc. Nam giới từ 18 tuổi đến 60 tuổi phải nộp thuế đinh theo mức quy định 2,8 đồng một đầu người[4], nhưng thực tế bọn Lý trưởng, Phó lý thường nâng lên 3 đồng rồi 3,6 đồng một đầu người để cho chúng vơ vét thêm. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, thuế đinh đã tăng lên 4 đồng/một suất. Hàng năm nhân dân trong huyện còn phải nộp thuế điền theo định xuất: Mỗi mẫu từ 3 đến 4 đồng. Lúc này, giá một con trâu chỉ có 9 đồng, như vậy, tiền đóng thuế của một gia đình trong năm xấp xỉ tiền bán một con trâu. Gia đình nào đông con trai ở độ tuổi trưởng thành phải nộp một số tiền còn lớn hơn nữa. Một vụ thu thuế, các gia đình nông dân lao động lao đao, nhiều nhà phải bán cả trâu bò, ruộng nương, có người phải đứt ruột bán con để lấy tiền nộp thuế.
Cùng với gánh nặng thuế khoá, mỗi năm người dân đến tuổi thành niên còn bị chính quyền thực dân bắt đi phu để xây dựng đồn bốt và mở các tuyến đường giao thông. Những người đi phu phải tự lo lương thực, quần áo, thuốc men trong những ngày lao động khổ sai. Cảnh màn trời chiếu đất cùng với chế độ lao động nặng nhọc và roi vọt đánh đập của bọn cai thầu làm nhiều người sinh đau ốm, bệnh tật, có người bỏ xác vì tai nạn. Trên các tuyến đường Nặm Vạng (Hoà An) và Hà Quảng đi các nơi… đã thấm bao nhiêu mồ hôi và cả máu của đồng bào các dân tộc - nạn nhân của chế độ phu phen tàn bạo.
Thực dân Pháp còn áp dụng chính sách độc quyền kinh tế, mà thâm độc nhất là nắm độc quyền muối - hàng tiêu dùng rất trọng yếu đối với đồng bào miền núi. Chúng đặt mức thuế muối rất nặng và kiểm soát chặt chẽ việc mua bán muối. Với thủ đoạn này, thực dân Pháp hy vọng trói chặt đời sống của đồng bào các dân tộc lệ thuộc vào chúng, đồng thời sử dụng muối làm công cụ chống phá cách mạng. Khi phong trào đấu tranh của quần chúng lên cao, thực dân Pháp nghiêm cấm việc mua bán muối, lấy muối và tiền dụ dỗ, kích thích bọn tay sai lùng bắt và bắn giết các cán bộ cách mạng.
Để hỗ trợ cho các chính sách đàn áp về chính trị, vơ vét về kinh tế, chính quyền thực dân đã triệt để sử dụng các thủ đoạn văn hoá, xã hội. Chúng kìm hãm đồng bào các dân tộc trong vòng tăm tối. Trên địa bàn rộng lớn của Hà Quảng, thực dân Pháp chỉ mở một trường học ở Sóc Giang và sau đó mở thêm một trường ở Nà Giàng dạy chương trình cấp tiểu học. Hai trường nhỏ bé này chỉ mở cửa đối với một số ít con em các gia đình giàu có ở địa phương và các vùng lân cận, còn hầu hết con em nhân dân lao động phải chịu cảnh thất học. Hơn 95% dân số Hà Quảng không biết chữ. Cùng với chính sách hạn chế, bóp nghẹt về giáo dục, chính quyền thực dân khuyến khích các tệ nạn xã hội. Ở Sóc Giang, Nặm Nhũng, Nà Giàng, Tổng Cọt… mọc lên nhiều sòng bạc lớn. Gắn liền với các sòng bạc là tệ nạn nghiện rượu, thuốc phiện và những sinh hoạt truỵ lạc. Do sự dung túng của chính quyền thực dân, nạn nghiện thuốc phiện tràn ngập khắp nơi. Ở các xã, tỷ lệ người nghiện lên tới 30 - 40%, riêng ở Lục Khu 90% thanh niên mắc tệ nạn này.
Hủ tục mê tín dị đoan phát triển đến mức trầm trọng. Bất lực trước thực tại, nghẹt thở dưới ách thực dân, phong kiến, nhiều nông dân Hà Quảng trước mọi biến động của gia đình, làng bản đành nhắm mắt trông chờ vào các thế lực “thần thánh”. Nhà có người ốm, người chết, hoặc gặp tai hoạ… phải chạy vạy vay mượn mời thầy mo, thầy cúng về cúng lễ. Để làm trầm trọng hơn tình trạng này, chính quyền thực dân có ý giam hãm đồng bào trong cảnh đói rét, bệnh tật. Vệ sinh, phòng bệnh bị bỏ lơi. Cả huyện chỉ có một y tá phục vụ bọn thống trị, còn nhân dân lao động lúc ốm đau không được biết đến thuốc thang, bệnh viện…
Những chính sách và thủ đoạn bóc lột, thống trị của thực dân, phong kiến đã tác động mạnh đến đời sống xã hội. Các thế lực bóc lột bao gồm bọn địa chủ, quan lại, kỳ hào, thổ phỉ đua nhau bóc lột dân chúng để làm giàu. Tuy ở Hà Quảng số lượng địa chủ không nhiều, quy mô chấp chiếm ruộng đất không lớn nhưng ách bóc lột của chúng cũng đè nặng lên đời sống của những người nông dân nghèo khổ. Dựa vào chính quyền thực dân, bọn này tìm mọi cách cướp đoạt ruộng đất của nông dân, chiếm cứ cả rừng, bãi làm sở hữu riêng, biến những người nông dân mất đất thành những người làm thuê.
Bọn quan lại, kỳ hào lớn bé đặt ra các khoản phụ thu lạm bổ vàỷ vào quyền lực, ra sức hà hiếp nhân dân lao động. Chúng thu tăng mức thuế, kéo dài thời hạn đi phu, ép buộc nhân dân phải lễ cống nạpvào các dịp lễ tết. Chúng đánh đập, cùm trói bất cứ ai cưỡng lại hoặc không thoả mãn những ý muốn ngang ngược của chúng.
Bọn thổ phỉ, trộm cướp, buôn lậu… cũng mặc sức hoành hành suốt vùng ven biên giới, dựa vào thế rừng núi hiểm trở, giáp ranh hai nước, các toán phỉ có vũ khí trong tay thường xuyên đột nhập các làng bản ở Thông Nông, Bó Gai, Lục Khu… và phố Sóc Giang, cướp phá các sòng bạc, bắt trâu bò, phá nhà cửa, buộc nhân dân phải nộp tiền của. Nạn thổ phỉ là một tai hoạ thường xuyên đe doạ đời sống đồng bào các dân tộc vùng biên giới Hà Quảng.
Gánh chịu nặng nề ách thống trị, áp bức của các thế lực bóc lột, đồng bào các dân tộc ở Hà Quảng đã phải sống một cuộc đời vô cùng cực khổ. Quần quật quanh năm trên đồng ruộng, nương rẫy, phần đông đồng bào vẫn ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Vất vả, nhọc nhằn chống chọi với thiên nhiên hà khắc, làm ra hạt thóc, bắp ngô nhưng nhân dân lao động không được hưởng