Xin ý kiến đóng góp đối với dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ huyện Hà Quảng nhiệm kỳ 2020 - 2025

Thứ sáu - 03/07/2020 16:34
Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Huyện ủy Hà Quảng đã chuẩn bị Dự thải Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 theo chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh ủy. Đến nay, Dự thảo (lần 7) báo cáo chính trị của huyện đã được Tiểu ban văn kiện tiếp thu ý kiến góp ý của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các đồng chí nguyên lãnh đạo huyện qua các thời kỳ. Để Dự thảo báo cái chính trị trình Đại hội Đảng bộ huyện Hà Quảng lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đảm bảo chất lượng, đánh giá khách quan, toàn diện việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2020 - 2025; đề ra các mục tiêu, các nội dung đột phá, chương trình trọng tâm, nhiệm vụ và giải pháp của nhiệm kỳ 2020 - 2025 phù hợp với địa phương, có tính khả thi khi triển khai thực hiện, Huyện ủy Hà Quảng trân trọng xin ý kiến đóng góp của cán bộ, đsngr viên và nhân dân trong toàn huyện đối với Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ huyện Hà Quảng lần rứ XX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020. Nội dung góp ý cho Dự thảo báo cáo chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân xin gửi về Huyện ủy Hà Quảng trước ngày 20/7/2020.
Hội nghị triển khai công tác tổ chức và phục vụ Đại hội Đảng bộ huyện Hà Quảng nhiệm kỳ 2020 - 2025

Hội nghị triển khai công tác tổ chức và phục vụ Đại hội Đảng bộ huyện Hà Quảng nhiệm kỳ 2020 - 2025

ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG
HUYỆN UỶ HÀ QUẢNG
*
(Dự thảo lần 07)
 
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Hà Quảng, ngày     tháng    năm 2020
 
PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNG CÁCH MẠNG;
 XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH; HUY ĐỘNG MỌI NGUỒN LỰC, ĐẨY MẠNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN, XÂY DỰNG HUYỆN HÀ QUẢNG PHÁT TRIỂN VỮNG MẠNH, TOÀN DIỆN
 
(Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hà Quảng
nhiệm kỳ 2015 - 2020 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XX,
nhiệm kỳ 2020 - 2025)
-----
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng sau sáp nhập Đảng bộ huyện Thông Nông vào Đảng bộ huyện Hà Quảng thành Đảng bộ huyện Hà Quảng. Đại hội có nhiệm vụ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2015 - 2020, quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2020 - 2025 và những năm tiếp theo; kiểm điểm công tác lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020; thảo luận và đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XX, nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Đại hội được tiến hành theo phương châm: Đoàn kết - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển; với chủ đề: Phát huy truyền thống quê hương cách mạng; xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; huy động mọi nguồn lực, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng huyện Hà Quảng phát triển vững mạnh, toàn diện.
 
Phần thứ nhất
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU NHIỆM VỤ
NHIỆM KỲ 2015 - 2020
I- Bối cảnh tình hình
Các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả tốt. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng vượt bậc, các chương trình, đề án thực hiện đạt hiệu quả; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hệ thống chính trị các cấp thường xuyên được củng cố và kiện toàn; nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của cấp uỷ, điều hành của chính quyền, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng ổn định và phát triển.
Trong nhiệm kỳ qua, tình hình chính trị, xã hội của huyện ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững, kinh tế tiếp tục có sự tăng trưởng so với giai đoạn 2010 - 2015; cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập và từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện luôn phát huy tốt truyền thống quê hương cội nguồn cách mạng, đoàn kết,vượt qua khó khăn, thử thách, quyết tâm đổi mới, năng động, sáng tạo, nêu cao trách nhiệm, kỷ cương trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành,hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng- an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Tuy nhiên, Hà Quảng là huyện vùng cao, biên giới, địa hình bị chia cắt, dân cư sống không tập trung, nền kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp; nguồn lực đầu tư còn hạn hẹp; đường biên giới dài (hơn 74 km), giao thông đi lại khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao; quy mô nền kinh tế nhỏ, kết cấu hạ tầng còn thiếu và yếu, nguồn lực đầu tư hạn hẹp; sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún; thiên tai, rét đậm, rét hại, mưa lũ, dịch bệnh (nhất là dịch tả lợn Châu phi, Covid-19) diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân; trình độ dân trí còn nhiều hạn chế và chưa đồng đều; chênh lệch mức sống giữa các vùng có xu hướng gia tăng; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp... ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của huyện.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XVIII, bám sát tình hình thực tế của địa phương, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện uỷ, sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và sự nỗ lực phấn đấu cao của toàn Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020.
II- Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020 (có biểu, phụ lục kèm theo)
1. Phát triển kinh tế
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020, Huyện ủy đã ban hành 07 chương trình công tác trọng tâm trong lĩnh vực phát triển kinh tế; thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ) thực hiện từng chương trình; cụ thể hoá thành kế hoạch hàng năm để thực hiện. Cùng với các chương trình trọng tâm, Huyện uỷ đã ban hành một số chỉ thị, nghị quyết chuyên đề để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế trên địa bàn. Từ đó kinh tế tiếp tục phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,4%/7% năm, vượt 5,7% mục tiêu Nghị quyết Đại hội; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ[1]; thu nhập bình quân đầu người đạt 20,4 triệu đồng, đạt 136% mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
1.1. Sản xuất nông, lâm nghiệpgắn với xây dựng nông thôn mới
Huyện uỷ Hà Quảng đã ban hành Chương trình nâng cao chất lượng cây trồng vật nuôi mũi nhọn; Chương trình phát triển nông nghiệp hàng hoá gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020và được cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo thực hiện.Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch tích cực, giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi; chú trọng khâu giống và công tác tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, trang bị kiến thức, kỹ năng sản xuất cho nhân dân; tổ chức hợp tác liên kết với các đối tác trong đầu tư sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 30.637 tấn, giá trị nông nghiệp đạt 38,4 triệu đồng/ha, đạt 104% mục tiêu Nghị quyết Đại hội, trong đó các xã vùng đồng đạt 63,7 triệu đồng/ha. Đã hình thành được vùng sản xuất thuốc lá chất lượng cao tại xã Ngọc Đào, thị trấn Xuân Hoà; các cây trồng có thế mạnh của huyện tiếp tục được mở rộng diện tích như ngô, lạc, gừng, ớt, nghệ... đem lại thu nhập ổn định cho người dân.
Chăn nuôi tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng đàn gia súc đạt và vượt so với kế hoạch[2].Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có sự chuyển biến, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư chuồng trại chăn nuôi lợn; chuyển diện tích cây trồng không hiệu quả sang trồng cỏ để chăn nuôi trâu, bò (nuôi nhốt) đem lại thu nhập cao hơn; từ năm 2016 - 2020, giá trị thu nhập từ chăn nuôi đạt trên 228 tỷ đồng. Huyện đã huy động từ nhiều nguồn hỗ trợ cho nhân dân mua 883 con bò, hơn 1.800 con lợn để phát triển đàn gia súc và tăng thu nhập cho nhân dân.
Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ, cả hệ thống chính trị vào cuộc, nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia; trong cả nhiệm kỳ đã huy động được 509 tỷ 439 triệu đồng từ các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới. Đến nay, bình quân toàn huyện đạt 10,6 tiêu chí NTM/xã và đã có 04 xã được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới (Trường Hà, Sóc Hà, Đào Ngạn và Phù Ngọc (NgọcĐào), đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội; phấn đấu đến cuối năm 2020 xã Lương Can đạt chuẩn nông thôn mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn có sự đổi mới, đời sống của người dân nông thôn được cải thiện, diện mạo khu vực nông thôn của huyện có nhiều đổi thay. Đến nay, 100% các xã có đường ô tô đến trung tâm và được nhựa hoá; các công trình cấp nước sinh hoạt được quan tâm đầu tư, tỷ lệ dân cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh ngày càng tăng; các trường học được đầu tư xây dựng đáp ứng việc học tập của các em học sinh; các trạm y tế trên địa bàn các xã, thị trấn đều có bác sỹ; nhà văn hóa cho các xóm được quan tâm, đầu tư[3].
Hệ thống kênh mương thủy lợi được đầu tư cải tạo, xây dựng mới và kiên cố hóa, cơ bản đáp ứng được tưới tiêu phục vụ sản xuất.
Công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng được chú trọng, thực hiện có hiệu quả. Thu hút được 01 doanh nghiệp liên kết với các hộ dân trồng rừng sản xuất được hơn 79,6 ha; trồng rừng tập trung được 426,1 ha, tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt 49,3%, vượt3,88% mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
Chỉ đạo cả hệ thống chính trị tích cực tuyên truyền, giải thích đến nhân dân về chủ trương, mục đích của công tác di giãn dân, đưa dân ra khỏi vùng nguy cơ thiên tai; trong nhiệm kỳ đã vận động được 41 hộ ra khỏi vùng có nguy cơ thiên tai, di dân ra biên giới được 20 hộ với tổng số tiền hỗ trợ 1,8 tỷ đồng.
Chương trình số 11-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy Hà Quảng về Di rời chuồng trại gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở giai đoạn 2016 - 2020 được quan tâm chỉ đạo quyết liệt, giai đoạn 2016 - 2020 đã di rời được 1.882/3.866 hộ còn để gia súc ra khỏi gầm sàn nhà, trong đó có 05 xã, thị trấn đạt 100%[4], 03 xã, thị trấn đạt trên 95%[5]. Quá trình triển khai thực hiện mặc dù kết quả đạt được chưa cao, song công tác di chuyển chuồng trại đã huy động được sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị, bước đầu đã thay đổi được ý thức và tập quán của người dân; từng bước trở thành phong trào sâu rộng trong quần chúng nhân dân, góp phần giữ môi trường nông thôn, cải thiện sức khỏe con người và đảm bảo phát triển tổng đàn gia súc.
1.2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Việc phát triển các ngành nghề mới gắn với khôi phục các ngành nghề truyền thống, nâng cao giá trị sản phẩm được cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên quan tâm chỉ đạo. Các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hoạt động tương đối ổn định, hoạt động chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng, vệ sinh môi trường, khung nhôm, cửa kính, làm giấy bản...các ngành nghề truyền thống được khôi phục và đem lại hiệu quả, tiếp tục duy trì thương hiệu làng nghề “Khẩu sli Nà Giàng”; làng dệt thổ cẩm ở Luống Nọi (xã Ngọc Đào), làng nghề Hương thảo mộc xóm Nà Kéo, xã Trường Hà, làng nghề giấy bản ở xóm Lũng Quang, thị trấn Thông Nông.
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng ước tính đến hết năm 2020 đạt 634,28 tỷ đồng, chiếm 15,8% trong cơ cấu kinh tế. Toàn huyện có 36 hợp tác xã đang hoạt động bình thường.
Hệ thống điện thắp sáng được quan tâm triển khai thực hiện có kết quả, huyện đã chủ động huy động và sử dụng nhiều nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng đưa điện lưới đến vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; đến nay có 21/21 xã, thị trấn với 96,3% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia.
1.3. Thương mại, dịch vụ, du lịch và kinh tế đối ngoại
Hoạt động thương mại, dịch vụ được mở rộng, mạng lưới chợ được quan tâm đầu tư, lưu thông hàng hoá thuận lợi, kịp thời cung ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu của nhân dân. Cùng với các chợ truyền thống, các hàng quán, cửa hàng, cửa hiệu, hệ thống cửa hàng tự chọn, siêu thị nhỏ... trên địa bàn tăng nhanh về số lượng, quy mô hoạt động đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, trao đổi hàng hóa, hỗ trợ phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. Toàn huyện có hơn 3.580 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ; 06 điểm cung ứng kinh doanh xăng dầu; 11 chợ[6] truyền thống đang hoạt động có hiệu quả. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa hết năm 2019 đạt trên 200 tỷ đồng; giá trị thương mại - dịch vụ đạt 1.298,8 tỷ đồng, chiếm 32,45% trong cơ cấu kinh tế.
Hoạt động kinh tế đối ngoại được đẩy mạnh, thường xuyên trao đổi, hội đàm với 02 huyện Nà Po, Tịnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc về hợp tác phát triển kinh tế và xử lý các vụ việc liên quan biên giới. Thực hiện tốt công tác phối hợp đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu Sóc Giang. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2015 - 2020 đạt 3.112 triệu USD[7].
Hoạt động du lịch có chuyển biến tích cực, cơ sở hạ tầng các khu, điểm du lịch trên địa bàn huyện được quan tâm đầu tư gắn với xây dựng nông thôn mới. Phối hợp đầu tư, nâng cấp một số điểm du lịch như: Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Pác Bó, Khu di tích lịch sử Kim Đồng; phối hợp triển khai xây dựng hoàn thành các điểm phục vụ trong khu vực Công viên địa chất Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng như điểm dừng đỗ xe ngắm cảnh, hoạt động làng nghề dệt thổ cẩm Lũng Nọi…; đầu tư, nâng cấp các điểm di tích lịch sử trên địa bàn tại các xã ATK; chỉ đạo xây dựng làng nông thôn mới nâng cao tại xóm Nà Mạ, xã Trường Hà; công bố làng nghề Hương thảo mộc xóm Nà Kéo, xã Trường Hà; quan tâm quảng bá hình ảnh huyện Hà Quảng với việc tổ chức tốt Lễ hội về nguồn Pác Bó, Hội thi Bò xuân... thu hút lượng khách đến với Khu di tích lịch sử Pác Bó, đến với huyện ngày một tăng, năm 2019 đạt 243.511 lượt người, tăng 113.500 lượt người so với năm 2015. Doanh thu du lịch đạt trên 03 tỷ đồng, tăng 114,2% so với năm 2015.
1.4. Công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, hạ tầng giao thông
Công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch được quan tâm chú trọng đạt được những kết quả nhất định, từng bước lập lại trật tự trong quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch. Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch Trung tâm thị trấn Xuân Hoà giai đoạn 2019 - 2030; quy hoạch xã Sóc Hà để phù hợp với chương trình phát triển đô thị đến năm 2030 đạt đô thị loại 5; quy hoạch xã Trường Hà theo hướng phát triển du lịch....
Hiện nay, trên địa bàn toàn huyện có có 25 đồ án đã được phê duyệt thực hiện. Trong đó 04 đồ án quy hoạch được UBND tỉnh phê duyệt (có 02 đồ án quy hoạch chung, 02 đồ án quy hoạch chi tiết); 19 đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã được UBND huyện phê duyệt. Các đề án quy hoạch được tổ chức công bố rộng rãi công khai và quản lý chặt chẽ theo quy định.
Công tác xây dựng cơ bản, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng; nhiều công trình quan trọng thiết yếu được đưa vào sử dụng, góp phần phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới. Tăng cường quản lý, tập trung vốn đầu tư cho các công trình trọng điểm, cấp thiết, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả. Tổng vốn đầu tư XDCB cả giai đoạn đạt 1.327,7 tỷ đồng, thực hiện 520 danh mục công trình trên các lĩnh vực: giao thông, thuy lợi, điện sinh hoạt, trường học, công trình văn hóa thể thao, nước sinh hoạt… góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh.
Triển khai có hiệu quả Chương trình số 14-CTr/HU, ngày 19/7/2016 và Chương trình số 12-CTr/HU, ngày 15/5/2016 của Huyện uỷ về phát triển giao thông nông thôn, giai đoạn 2016 - 2020. Ủy ban nhân dân huyện đã chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình với tinh thần huy động mọi nguồn lực, nhà nước và nhân dân cùng làm, đến nay 100% các xã có đường rải nhựa, bê tông đến trung tâm xã, các tuyến đường liên xóm cơ bản được cải tạo, nâng cấp, tạo thuận lợi cho nhân dân đi lại, vận chuyển hàng hóa và góp phần quan trọng cho địa phương phát triển[8].
Thực hiện Chương trình số 11-CTr/HU, ngày 15/5/2016 của Huyện ủy Thông Nông về phát triển thị trấn Thông Nông theo tiêu chí đô thị loại V miền núi, giai đoạn 2016 - 2020: Huyện đã chỉ đạo bổ sung hoàn thiện các công trình, kết cấu hạ tầng; bổ sung hoàn thiện các tiêu chí chưa đạt theo quy định. Vì vậy các tiêu chí thực trạng của Thị trấn Thông Nông so với tiêu chí phân loại đô thị tại Nghị quyết số 1210/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đến năm 2019 đạt 74,25/100 điểm (điểm đạt tối thiểu là 75 điểm).
1.5. Tài chính, Ngân hàng, phát triển doanh nghiệp và kinh tế tập thể
Công tác thu ngân sách nhà nước được tập trung chỉ đạo quyết liệt; huy động được sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Các đơn vị được giao chỉ tiêu thu ngân sách đã chủ động rà soát các sắc thuế, đề xuất các giải pháp mở rộng, nuôi dưỡng các nguồn thu và thực hiện thu có kết quả; đặc biệt là triển khai các đề án tăng thu ngân sách từ đất, thuế xây dựng tư nhân; thuế vận tải tư nhân; thuế các loại hình dịch vụ trên địa bàn…nhờ đó kết quả thu ngân sách hết năm 2019 đạt 41,22 tỷ/34,14 tỷ đồng, hàng năm tăng bình quân 15%, đạt 105,1% mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ bảo đảm đúng quy định theo dự toán giao.
Hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn được duy trì ổn định và phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn của cá nhân và thành phần kinh tế hoạt động sản xuất, kinh doanh; tổng dư nợ giai đoạn 2016 - 2020 của các ngân hàng đạt 900.455 triệu đồng. Các dịch vụ ngân hàng đa dạng, chất lượng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu về thanh toán, chuyển tiền và sử dụng dịch vụ khác của tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân trên địa bàn.
Các doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn hoạt động và tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội; thành lập mới và chuyển đổi theo Luật hợp tác năm 2012 được 41 hợp tác xã, các hợp tác xã đang từng bước phát triển với quy mô và trình độ phù hợp. Có 16 doanh nghiệp tư nhân của địa phương đang hoạt động có hiệu quả.
Quán triệt và chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân là thành phần đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, trong nhiệm kỳ vừa qua kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, các mô hình kinh tế hộ được phát triển theo hướng đa dạng tổng hợp, hiệu quả. Số hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, thu nhập khá ngày càng tăng[9]. Các mô hình kinh tế phát triển đồng bộ, nông sản của một số lĩnh vực chủ yếu đã trở thành hàng hoá đáng kể như: thuốc lá sấy vàng, lạc, ngô, gừng, lợn đen… góp phần quan trọng vào ổn định và tăng trưởng kinh tế của huyện.
1.6. Tài nguyên - Môi trường, Khoa học - Công nghệ
Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu được chú trọng, chủ động thực hiện. Chỉ đạo triển khai kịp thời công tác bồi thường giải phóng mặt bằng các công trình, dự án trên địa bàn đúng quy định; triển khai có hiệu quả nhiệm vụ, kiểm tra, thẩm định, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân; tiếp nhận, giải quyết và kịp thời xử lý các đơn thư kiến nghị, khiếu nại của công dân. Thường xuyên chỉ đạo công tác thu gom, xử lý rác thải đảm bảo cơ bản không xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn[10]. Hiện nay, trên địa bàn huyện mới chỉ thực hiện được công tác thu gom, xử lý rác thải tại 02 thị trấn và 05 chợ xã, còn rác thải khu dân cư nông thôn của các xã còn lại chưa được thu gom, xử lý mà chủ yếu người dân tự xử lý bằng hình thức đốt.
Chú trọng việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, từ năm 2015 đến nay nhiều chương trình sản xuất nông nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học đạt kết quả như: cây thuốc lá, cây ngô (ứng dụng sản phẩm nano kim loại để xử lý hạt giống). Các chương trình sản xuất lúa, lạc, gừng trâu …đã được thực hiện chuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất truyền thống sang hình thức canh tác ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào tất cả các khâu, mang lại năng suất, chất lượng, sản lượng cao hơn; đặc biệt việc sử dụng các loại giống mới phù hợp với từng vùng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm tăng giá trị thu nhập trên ha đất canh tác.
Hiện nay, đang có một số doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào sản xuất nông nghiệp với quy mô tương đối lớn so với sản xuất tại các hộ gia đình[11], là những đơn vị tiên phong trong việc đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, tổ chức liên kết với nhân dân trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. 
2. Văn hóa - xã hội
2.1. Giáo dục và đào tạo
Mạng lưới trường, lớp học được củng cố, phát triển, chất lượng giáo dục, đào tạo không ngừng được nâng lên[12]. Cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy và học được tăng cường đầu tư, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 97,2%. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cơ bản đủ về số lượng, 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo, trên chuẩn chiếm 81,7%; tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý; chất lượng đội ngũ nhà giáo không ngừng được nâng lên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đổi mới giáo dục. Chất lượng học sinh mũi nhọn, tỷ lệ học sinh giỏi các cấp ngày càng tăng; học sinh hoàn thành chương trình tiểu học và tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 100%; tỷ lệ tốt nghiệp THPT bình quân hàng năm đạt trên 92,6%, tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường cao đẳng, đại học bình quân hàng năm đạt 11,96%[13]. Duy trì phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục THCS cho 21/21 xã, thị trấn; công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được quan tâm chỉ đạo thực hiện, các cấp học đều có trường đạt chuẩn quốc gia; công tác xã hội hoá giáo dục, khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập được các cơ quan, đơn vị và nhân dân tích cực hưởng ứng.
2.2. Văn hoá, thể thao, thông tin truyền thông
Các hoạt động văn hoá, thể thao được đẩy mạnh, tổ chức với nhiều nội dung và hình thức đa dạng, phong phú góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh thực hiện. Tỷ lệ các hộ dân được xem truyền hình đạt 97%, đạt 102% mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Công tác gia đình được chú trọng với nhiều cách làm, nội dung phong phú, các chỉ tiêu về văn hóa cơ bản đạt kế hoạch đề ra[14]. Phong trào thể dục thể thao ngày càng phát triển, tổ chức thành công các hoạt động thể dục thể thao cấp huyện và tham gia cấp tỉnh đạt hiệu quả.
Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc được quan tâm,[15]từng bước khôi phục và nâng cao nội dung lễ hội xã Sóc Hà, duy trì và phát triển lễ hội Leo cột mỡ Nà Én xã Cần Nông. Tổ chức các hoạt động trong Lễ hội về nguồn Pác Bó năm 2019; Ngày hội văn hóa dân tộc Mông; Hội thi bò xuân hằng năm được tổ chức theo hướng tăng thời gian và nhiều hoạt động hấp dẫn thu hút nhân dân và du khách tham gia.
Mạng lưới bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin phát triển mạnh góp phần phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. 100% các xã, thị trấn có phủ sóng điện thoại di động, Internet; Trạm truyền thanh không dây.
Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và truyền thông của huyện cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan nhà nước được 100% các phòng, ban chuyên môn, các cán bộ công chức, viên chức sử dụng. Triển khai có hiệu quả việc gửi, nhận văn bản điện tử có ký số trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành VNPT-iOffice 4.0 tại UBND huyện và UBND các xã, thị trấn. Trang thiết bị cho phòng họp trực tuyến từng bước được đầu tư, đáp ứng nhu cầu kết nối các hội nghị trực tuyến từ Trung ương hoặc tỉnh về huyện kịp thời.
2.3. Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình
Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở thường xuyên được quan tâm củng cố; các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được triển khai có hiệu quả; công tác y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân không ngừng được nâng lên. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt theo kế hoạch đề ra[16]. Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ em được triển khai có hiệu quả; hệ thống cộng tác viên các cấp hoạt động tích cực; thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho đội ngũ cộng tác viên và cô đỡ thôn bản. Với diễn biến phức tạp của dịch covid-2019, huyện đã thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống dịch; tổ chức, chỉ đạo các xã, thị trấn phối hợp cùng lực lượng chức năng tổ chức tiếp nhận và cách ly công dân theo quy định. Tích cực tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cách phòng, chống dịch, thực hiện nghiêm cách ly xã hội trong thời gian cao điểm chống dịch theo chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh; cán bộ, đảng viên và nhân dân ủng hộ Quỹ phòng chống dịch Covid-19 của huyện được hơn 300 triệu đồng, kịp thời hỗ trợ kinh phí cho các lực lượng trực tiếp đảm bảo công tác phòng chống dịch trên địa bàn.
2.4. Nội vụ, Lao động - Thương binh và Xã hội
Công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển công chức, viên chức bảo đảm đúng quy trình, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh. Việc thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức được thực hiện kịp thời theo quy định; việc tinh gọn bộ máy theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) và sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và các xóm, tổ dân phố theo Nghị quyết số 37 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 864 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được triển khai thực hiện nghiêm túc, nhận được sự đồng thuận cao của cán bộ và nhân dân, thời gian thực hiện đảm bảo đúng tiến độ theo kế hoạch của tỉnh[17]. Sau sắp xếp, toàn huyện còn 21 xã, thị trấn (giảm 09 xã) và 195 xóm, tổ dân phố (giảm 170 xóm và 01 tổ dân phố); giảm 3.147 người hoạt động không chuyên trách (cấp xã 291 người, xóm 2.856 người).
Công tác thi đua khen thưởng được quan tâm thực hiện thường xuyên, từ năm 2015 - 2019, có 718 tập thể, 2.357 cá nhân được khen thưởng có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động được chú trọng, thực hiện; chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được triển khai thực hiện hiệu quả, vượt mục tiêu Đại hội đề ra[18]. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn 37,92%.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng. Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa thường xuyên được quan tâm thực hiện, từ năm 2015 đến nay toàn huyện đã huy động xây dựng Quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" được 1.360 triệu đồng. Công tác bảo trợ xã hội, công tác bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được tổ chức thực hiện tốt, đảm bảo quyền lợi của các đối tượng tham gia. Công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, bảo vệ chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và phòng chống tệ nạn xã hội được quan tâm thực hiện có hiệu quả; công tác cứu trợ xã hội, khắc phục hậu quả, thiệt hại do thiên tai gây ra đảm bảo kịp thời.
2.5. Công tác dân tộc, tôn giáo
Các dự án, chính sách dân tộc: Chương trình 135, Nghị quyết 30a, các chính sách hỗ trợ sản xuất, xoá đói giảm nghèo... được triển khai kịp thời, hiệu quả. Thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc, thường xuyên cung cấp thông tin, tuyên truyền các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đến các vùng dân tộc; phát huy tốt vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc bảo đảm phù hợp đối với từng loại chính sách và các đối tượng thụ hưởng theo từng giai đoạn. Tổ chức thành công Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số cấp huyện lần thứ 03.
Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được tăng cường, chủ động nắm tình hình, hướng dẫn, tạo điều kiện để các điểm nhóm hoạt động theo đúng định hướng; kiên quyết đấu tranh các hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Nhìn chung, các điểm nhóm theo đạo Tin lành chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực sản xuất, đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, tham gia các phong trào thi đua yêu nước do địa phương phát động.
3. Quốc phòng - an ninh, đối ngoại
3.1. Công tác Quốc phòng
Tập trung xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, tiềm lực quốc phòng - an ninh của huyện được tăng cường; kiện toàn kịp thời Ban chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ, Hội đồng giáo dục quốc phòng - an ninh, Hội đồng nghĩa vụ quân sự, Ban chỉ đạo phòng không nhân dân, Ban tuyển sinh quân sự. Chỉ đạo tổ chức diễn tập chiến đấu phòng thủ, diễn tập phòng chống cháy rừng ở các xã, thị trấn theo kế hoạch hằng năm và tổ chức tốt cuộc diễn tập chiến đấu phòng thủ cấp huyện năm 2019. Công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho học sinh hàng năm hoàn thành 100% nội dung chương trình kế hoạch; công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh được quan tâm thực hiện, đúng quy định[19]. Công tác tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu (từ 2016 đến 2020 có 584 thanh niên lên đường làm nghĩa vụ quân sự). Lực lượng dân quân, lực lượng dự bị động viên thường xuyên được được củng cố rà soát, bổ sung; thực hiện tốt công tác tuyển sinh quân sự, số lượng thí sinh đăng ký dự thi và trúng tuyển vào các trường quân đội ngày càng tăng. Thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng theo Nghị định 77/NĐ-CP (nay là Nghị định 03/NĐ-CP) của Chính phủ.
3.2. Công tác An ninh
Tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội. Triển khai các phương án bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, các sự kiện chính trị quan trọng trên địa bàn huyện. Phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc" được đẩy mạnh; công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự được tăng cường; công tác đảm bảo an toàn giao thông đạt mục tiêu ba giảm. Tổ chức thực hiện nghiêm túc Đề án Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã tại 21/21 xã, thị trấn. Thường xuyên chỉ đạo đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả hoạt động của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, không để điểm nóng phức tạp xảy ra trên địa bàn.
3.3. Công tác đối ngoại
Hoạt động đối ngoại với 2 huyện Nà Po và thành phố Tịnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc tiếp tục được duy trì. Từ năm 2016 đến nay, tổ chức 05 cuộc hội đàm với huyện Nà Po về xây dựng cầu chuyên dụng vận chuyển hàng hóa tại cửa khẩu Sóc Giang; bảo vệ đường biên, cột mốc, phát quang đường biên giới, hợp tác phát triển kinh tế nông nghiệp; hội đàm với huyện Tịnh Tây 02 cuộc về sửa chữa cột mốc, các biện pháp bảo vệ vành đai biên giới; công tác đảm bảo an ninh biên giới; công tác phát triển du lịch, xúc tiến xây dựng cặp chợ biên giới…
Công tác đối ngoại biên phòng, đối ngoại nhân dân hai bên biên giới tiếp tục được củng cố và phát triển. Các lực lượng chức năng đã duy trì và thực hiện tốt các hoạt động đối ngoại trong việc quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, giữ vững an ninh trật tự khu vực biên giới, xây dựng khu vực biên giới hoà bình hữu nghị hợp tác cùng phát triển; phối hợp triển khai thực hiện nghiêm túc các văn kiện pháp lý về biên giới, cửa khẩu, đất liền Việt Nam - Trung Quốc.
4. Công tác xây dựng Đảng
4.1. Công tác chính trị, tư tưởng
Công tác chính trị, tư tưởng tiếp tục được chú trọng và tăng cường trên cơ sở  kiên định chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh qua đó tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng.
Công tác nghiên cứu, học tập, công tác giáo dục lý luận chính trị được thực hiện nghiêm túc; việc quán triệt, triển khai các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng và các văn bản mới ban hành có nhiều đổi mới; công tác nghiên cứu, điều tra, nắm bắt định hướng dư luận xã hội phục cho công tác lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các cấp trong nhiệm kỳ được đẩy mạnh; công tác giáo dục truyền thống thông qua việc đưa lịch sử Đảng bộ huyện vào giảng dạy tại Trung tâm chính trị huyện và các trường phổ thông trung học của huyện được quan tâm, qua đó tạo sự thống nhất về nhận thức từ huyện đến cơ sở, sự đồng thuận trong việc cụ thể hóa đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; tăng thêm niềm tin trong cán bộ đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Chú trọng đánh giá sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng để cụ thể hóa vận dụng phù hợp vào thực tế của địa phương. Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; làm tốt công tác định hướng hoạt động tuyên truyền các ngày lễ, kỷ niệm, các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa nổi bật của đất nước, của địa phương.
Để nâng cao nhận thức cho nhân dân trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội, Huyện ủy Thông Nông đã ban hành Chương trình số 14-CTr/HU, ngày 15/6/2016 về Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2016 - 2020. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các chuyên đề trọng tâm, trọng điểm như[20]: chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phổ biến kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm, các mô hình sản xuất; các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao; giáo dục, đào tạo; quản lý tài nguyên môi trường; giảm nghèo…
Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; làm tốt công tác định hướng hoạt động tuyên truyền các ngày lễ, kỷ niệm, các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá nổi bật của đất nước, của địa phương; chỉ đạo xã Trường Hà nghiên cứu, biên tập và xuất bản cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Trường Hà giai đoạn 1930 - 2015; biên soạn cuốn lịch sử Đảng bộ huyện Thông Nông giai đoạn 1930 - 2020. Hoàn thành việc khai thác tư liệu và xây dựng phòng truyền thống Huyện uỷ Hà Quảng.
Xây dựng kế hoạch và nghiêm túc thực hiện có hiệu quả nội dung đột phá thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về "Chủ động, trách nhiệm; nói đi đôi với làm; chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại" học tập và làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII của Đảng. Hằng năm, thực hiện tốt việc học tập chuyên đề, viết bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện trong cán bộ, đảng viên; đăng ký nội dung đột phá và cam kết thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ trong từng năm; có nhiều mô hình, cách làm sáng tạo đã được thực hiện tốt ở cơ sở, qua đó góp phần ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"  trong nội bộ[21]. Thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
4.2. Công tác tổ chức cán bộ
Công tác tổ chức cán bộ có nhiều đổi mới, đạt được những kết quả quan trọng về kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên được nâng lên. Tập trung sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, xóm, tổ dân phố trên địa bàn huyện đảm bảo đúng quy trình, quy định và nhận được sự đồng thuận cao trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; thực hiện đề án sắp xếp, sáp nhập Đảng bộ huyện Thông Nông vào Đảng bộ huyện Hà Quảng theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV và Quyết định của Tỉnh ủy Cao Bằng đảm bảo đúng tiến độ thời gian.
Thực hiện việc sắp xếp lại các tổ chức đảng; kiện toàn Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cấp ủy cơ sở; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu  của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên được thực hiện đồng bộ với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Thực hiện Trưởng ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch Uỷ ban MTTQ huyện, Trưởng ban Tuyên giáo đồng thời là Giám đốc Trung tâm chính trị huyện; 75 % Bí thư chi bộ đồng thời là Trưởng xóm, tổ dân phố. Chất lượng đảng viên, cấp ủy viên các cấp tiếp tục được nâng lên; duy trì 100% xóm có chi bộ[22].
Công tác cán bộ được triển khai đồng bộ, đảm bảo nguyên tắc, đúng quy trình, thủ tục ở tất cả các khâu; chỉ đạo thực hiện chặt chẽ công tác đánh giá cán bộ hàng năm gắn với việc xây dựng, rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ. Cấp ủy các cấp thường xuyên chăm lo đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, thực hiện chuẩn hóa và trẻ hóa cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở.
Công tác nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, công tác phát triển đảng viên được quan tâm cả về số lượng và chất lượng; việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ từ huyện đến cơ sở được chú trọng nâng cao về chất lượng gắn với Chương trình xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị giai đoạn 2016-2020. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị được thực hiện tốt theo Quy định số 126-QĐ/TW của Bộ Chính trị về “Một số vấn đề về công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”, Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Những điều đảng viên không được làm”.
Thực hiện Chương trình số 15-CTr/HU, ngày 15/6/2016 của Huyện ủy Thông Nông về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ, giai đoạn 2016 - 2020 và Chương trình số 10-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện uỷ Hà Quảng về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở giai đoạn 2016 - 2020,đã có 1.283 cán bộ, công chức trẻ được đi đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị (tăng 783 người so với nhiệm kỳ trước); 100% cán bộ, công chức đương chức và dự nguồn quy hoạch giữ các chức danh trưởng, phó các phòng, ban của huyện và Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện được đào tạo, bồi dưỡng đạt trình độ về quản lý nhà nước và lý luận chính trị. Đến nay số cán bộ, công chức cấp huyện đạt chuẩn về trình độ chuyên môn chiếm 95,03%, trong đó trên chuẩn 4,1%; cấp xã đạt chuẩn chiếm 96,02%.
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng; chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tổ chức thành công hội thi bí thư chi bộ giỏi cấp huyện, cấp xã, thị trấn và tham gia hội thicấp tỉnh đạt kết quả; tăng cường kiểm tra, giám sát, hướng dẫn cơ sở thực hiện tốt các quy định của Trung ương về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng của đảng viên. Hàng năm, 100% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ trở lên, 80% hoàn thành tốt nhiệm vụ, không có tổ chức đảng yếu kém. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Quy định số 213-QĐ/TW ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị quy định về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú.
4.3. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được đẩy mạnh, đảm bảo khách quan, chính xác, kịp thời, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật và sự đoàn kết thống nhất, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp đã tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực, địa bàn nổi cộm, bức xúc, dễ phát sinh tiêu cực; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, những vụ việc phức tạp, dư luận quan tâm được xem xét, giải quyết; xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đảm bảo nguyên tắc, quy định của Đảng. Trong nhiệm kỳ, cấp uỷ các cấp đã kiểm tra được 38 lượt đảng viên, 256 lượt tổ chức đảng; giám sát chuyên đề được 84 tổ chức đảng và 89 đảng viên; thi hành kỷ luật 38 đảng viên; thành lập các đoàn kiểm tra khắc phục những hạn chế khuyết điểm của các tổ chức, cá nhân đã được chỉ ra, trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ lãnh đạo diện Ban Thường vụ Huyện uỷ quản lý trong công tác lãnh đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao. Thành lập 30 đoàn kiểm tra đối với 92 chi, đảng bộ trực thuộc. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát đã kịp thời chỉ rõ những hạn chế, thiếu sót trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở các cấp, các ngành và chỉ đạo uốn nắn, khắc phục, từ đó các cơ quan, đơn vị nhất là người đứng đầu đã tích cực sửa chữa, chủ động, đổi mới, sáng tạo, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả hơn trong công tác.
Ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm[23].
4.4. Công tác dân vận
Công tác dân vận được chú trọng, đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở theo Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 30/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về ‘‘Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; kịp thời triển khai, sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng về công tác dân vận, công tác dân tộc, tôn giáo. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, Quy chế dân vận của hệ thống chính trị, công tác dân vận trong các cơ quan Nhà nước; phong trào thi đua "Dân vận khéo", công tác vận động quần chúng, công tác dân tộc, công tác tôn giáo tiếp tục được triển khai có hiệu quả.
Công tác dân vận của các cơ quan Nhà nước đạt kết quả tốt; chính quyền các cấp tích cực thực hiện công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các cấp, các ngành đã chủ động phối hợp, tích cực nắm tình hình cơ sở trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, công tác tôn giáo; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ, phát huy vai trò trách nhiệm của Ban Chỉ đạo quy chế dân chủ các cấp; kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, công tác hoà giải trong nội bộ nhân dân đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết kịp thời những mâu thuẫn nảy sinh từ cơ sở. Việc duy trì và thực hiện quy chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị về thực hiện công tác dân vận được đẩy mạnh. Các phong trào thi đua yêu nước gắn với việc học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí  Minh và phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã huy động được cả hệ thống chính trị tham gia, nhất là việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đã tạo được sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân. Toàn huyện duy trì và xây dựng được 635 mô hình “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực của đời sống, xã hội.
4.5. Công tác nội chính Đảng
Tiếp tục thực hiện tốt Kết luận 21-KL/TW của BCH Trung ương (khoá XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng 3 (khoá X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản; các Nghị quyết Trung ương 4,6,7,8 (khóa XII), các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng. Chỉ đạo các cơ quan trong khối nội chính duy trì và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy chế phối hợp và thực hiện nhiệm vụ theo quy định; đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các trường học và Trung tâm Chính trị huyện. Đăng tải các văn bản về công tác phòng, chống tham nhũng trên Trang thông tin điện tử của huyện và các phương tiện thông tin đại chúng nhằm phản ánh định hướng và dư luận xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Thực hiện ký bản cam kết không tham nhũng và kê khai minh bạch tài sản thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức theo đúng quy định của Đảng, Nhà nước; thực hiện tốt việc chuyển đổi vị trí công tác theo quy định của Chính phủ đảm bảo hiệu quả, đúng pháp luật.
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật, hòa giải ở cơ sở có nhiều chuyển biến và được đẩy mạnh, kịp thời định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trước những vụ việc phức tạp nảy sinh. Công tác thanh tra kinh tế - xã hội, thanh tra chuyên đề được quan tâm thực hiện, góp phần tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trong nhiệm kỳ thực hiện được 38 cuộc thanh tra, 03 cuộc kiểm tra về kinh tế - xã hội, kịp thời kiến nghị thu hồi, khắc phục hậu quả. Trong 5 năm qua, không có vụ việc tham nhũng nào xảy ra.
Các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo vệ pháp luật phối hợp chặt chẽ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra trường hợp oan sai, bỏ lọt tội phạm. Hoạt động tranh tụng tại phiên toà có nhiều chuyển biến tích cực theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo thường xuyên được chú trọng, tạo sự chuyển biến tích cực ngay từ cơ sở. Trách nhiệm, chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cấp, các ngành được nâng lên, nhiều vụ việc kéo dài, phức tạp được giải quyết dứt điểm.
5. Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
5.1. Hoạt động của chính quyền
Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều đổi mới, cụ thể hóa kịp thời, triển khai có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Huyện ủy; quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn phù hợp với tình hình thực tế. Từng bước nâng cao chất lượng các kỳ họp, các cuộc tiếp xúc cử tri; tăng cường giám sát, đôn đốc các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, kiến nghị sau giám sát của HĐND. Tổ chức thành công các kỳ họp để bầu các chức danh chủ chốt của HĐND, UBND các cấp sau sắp xếp các đơn vị hành chính, cấp huyện, cấp xã. Công tác tiếp dân và giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân thực hiện đúng quy định. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ trong công tác giữa Thường trực HĐND với UBND, Ban thường trực Ủy ban MTTQ huyện và các cơ quan liên quan.
Uỷ ban nhân dân các cấp đã bám sát sự lãnh đạo cấp uỷ, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của HĐND, tuân thủ các quy định của pháp luật, chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường, có nhiều giải pháp chủ động, tích cực, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá... nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh trên địa bàn huyện. Cụ thể hóa các chương trình công tác trọng tâm thành các kế hoạch, thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện nhiệm vụ. Tập trung thực hiện cải cách hành chính, 21/21 xã, thị trấn thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế liên thông góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.
5.2. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã bám sát nhiệm vụ chính trị của cấp ủy ở địa phương, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, đa dạng hóa các hình thức tập hợp đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt các chủ trương của Đảng,  chính sách, pháp luật của Nhà nước; đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng, xây dựng đời sống văn hóa. Chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền cơ sở nắm chắc tình hình, phản ánh kịp thời tâm tư nguyện vọng, quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội, thực hiện tốt chương trình phối hợp giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức Nhà nước, xử lý có hiệu quả những vấn đề đột xuất, những vướng mắc phát sinh từ cơ sở; xây dựng và phát huy vai trò người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư. Tích cực đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh của địa phương.
III- Kết quả thực hiện các chương trình trọng tâm của Đại hội  (có báo cáo riêng)
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020, Huyện ủy Hà Quảng và Huyện ủy Thông Nông đã ban hành 11 Chương trình trọng tâm[24], các chương trình đều được thành lập các Ban chỉ đạo để chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Từ việc triển khai thực hiện có hiệu quả của các chương trình, một số tiềm năng, thế mạnh của huyện được phát huy: tăng diện tích, sản lượng, số lượng cây trồng vật nuôi mũi nhọn, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp có năng suất, chất lượng, có giá trị kinh tế cao; kết nối được với một số doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm cho các cây trồng vật nuôi, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa phát triển; công tác di rời chuồng trại được cấp uỷ, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo thực hiện theo chương trình, kế hoạch, được đa số nhân dân đồng tình hưởng ứng; việc xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông trên địa bàn huyện đạt được nhiều kết quả nổi bật, huy động được các nguồn lực phát triển giao thông nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát triển kinh tế - xã hội; việc quy hoạch đô thị được quan tâm thực hiện; công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn; chất lượng hoạt động của các chi bộ, MTTQ và các đoàn thể ở cơ sở được nâng lên; quan tâm cử cán bộ, công chức cấp huyện, cấp xã tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng đạt chỉ tiêu, kế hoạch đề ra; chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến, kêu gọi thu hút đầu tư phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ; tăng cường công tác quảng bá hình ảnh, con người Hà Quảng đến bạn bè trong nước và quốc tế.
IV- Đánh giá kết quả đạt được; những hạn chế và nguyên nhân
1. Đánh giá kết quả; nguyên nhân đạt được
1.1. Đánh giá về kết quả đạt được
Qua 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ, chính quyền nhân dân các dân tộc huyện Hà Quảng đã nêu cao tinh thần đoàn kết, nỗ lực, sáng tạo vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xác định rõ những lợi thế và hạn chế của huyện, tìm ra nguyên nhân, tập trung vào các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá để xây dựng kế hoạch theo thứ tự ưu tiên, từng bước tháo gỡ những khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện. 14/22 chỉ tiêu kinh tế- xã hội của huyện đạt và vượt mục tiêu đề ra.
Kinh tế của huyện tiếp tục ổn định và có bước phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng thực hiện đạt và vượt mục tiêu đề ra như: tốc độ tăng trưởng kinh tế (7,46/7%), thu nhập bình quân/người (20,4 triệu đồng/15 triệu đồng); giá trị sản xuất nông nghiệp/ha (38,4 triệu đồng/37 triệu đồng), thu ngân sách tăng bình quân (10,51%/10%), giảm tỷ lệ hộ nghèo (5,22%/4%). Triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư và từng bước hoàn thiện, trên 90% số xóm có đường ô tô, xe máy đến xóm, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, có 04 xã hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới; thương mại, dịch vụ tiếp tục có bước phát triển, hàng hóa lưu thông đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân; khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, khu kinh tế cửa khẩu Sóc Giang được quan tâm đầu tư, mở ra cơ hội và triển vọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, trong nhiệm kỳ có thêm 16 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt 160% mục tiêu nghị quyết đại hội); tài nguyên, môi trường sinh thái cơ bản được bảo vệ. Quốc phòng - an ninh được củng cố, tăng cường, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, tiếp tục được nâng lên.
Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng lên; hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của các cấp chính quyền có nhiều chuyển biến tích cực. Hoàn thành việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, các xóm, tổ dân phố trên địa bàn huyện và sắp xếp tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục được nâng lên, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục tăng cường, tạo được sự đồng thuận, tin tưởng và ủng hộ cao trong các tầng lớp nhân dân.
1.2. Nguyên nhân kết quả đạt được
- Nguyên nhân khách quan: Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chính sách hỗ trợ đối với huyện nghèo, biên giới…đã tạo điều kiện thuận lợi cho huyện trong quá trình xây dựng và phát triển.
Huyện Hà Quảng luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và sự hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời của các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh trong quá trình tổ chức, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ.
- Nguyên nhân chủ quan: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã vận dụng sáng tạo, có hiệu quả các chủ trương, quan điểm của Đảng, đồng thời đề ra những chủ trương, chương trình, các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu có trọng tâm, trọng điểm, sát với thực tiễn địa phương để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ.
Những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị cùng với những bài học kinh nghiệm sâu sắc đã được rút ra từ nhiệm kỳ trước là nền tảng quan trọng, là cơ sở, tạo đà thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ qua.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy truyền thống quê hương cội nguồn cách mạng, sáng tạo, chủ động, khắc phục mọi khó khăn vì mục tiêu xây dựng huyện Hà Quảng ngày càng phát triển.
2. Hạn chế và nguyên nhân
2.1. Hạn chế:
Quy mô nền kinh tế nhỏ, thu nhập bình quân đầu người của huyện còn thấp so với bình quân chung của tỉnh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; việc phát triển sản xuất hàng hoá còn ít, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định, chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp; tiềm năng lâm nghiệp chưa được phát huy, kinh tế hợp tác xã, trang trại chưa phát triển, số lượng ít, quy mô nhỏ. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Nguồn lực để thực hiện các Chương trình trọng tâm còn hạn hẹp; các loại hình dịch vụ còn ít và chưa phát triển.
Kết quả thực hiện chỉ tiêu nghị quyết Đại hội và các Chươngtrình trọng tâm chưa đạt mục tiêu đề ra (có 08/22 chỉ tiêu[25], 6/11 chương trình[26] chưa đạt mục tiêu đề ra.
Chưa huy động được nhiều lực lượng xã hội tham gia xã hội hoá công tác giáo dục, cơ sở vật chất một số trường chưa đáp ứng theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, nhất là ở vùng sâu vùng xa, biên giới. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ tái nghèo và hộ cận nghèo vẫn còn cao; mức sống và hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân giữa các vùng còn chênh lệch lớn.
Tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội và hoạt động của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình còn tiềm ẩn diễn biến phức tạp; tình trạng lao động phổ thông xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc làm thuê còn xảy ra. Việc triển khai thực hiện kết luận thanh tra, giải quyết khiếu nại một số vụ việc còn chậm.
 Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng trong đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiếu số còn gặp nhiều khó khăn, có mặt còn hạn chế. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số ít tổ chức đảng cơ sở chưa đáp ứng; chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng chưa cao; công tác vận động quần chúng có lúc, có nơi chưa hiệu quả; công tác dân vận ở một số cơ quan Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức; thực hiện Quy chế dân chủ ở một số nơi còn hình thức.
Đội ngũ cán bộ sau sắp xếp đơn vị hành chính dôi dư lớn, khó khăn cho việc bố trí, sắp xếp vị trí việc làm theo quy định của Luật cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn của cấp trên; chất lượng tham mưu triển khai thực hiện nhiệm vụ của một số cán bộ công chức hiệu quả chưa cao.
 Công tác quản lý Nhà nước trên một số ít lĩnh vực kết quả chưa cao; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ chưa thực sự chặt chẽ và đồng bộ, công tác cải cách hành chính có mặt thực hiện kết quả còn thấp. Công tác chỉ đạo, thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết các vấn đề bức xúc tại địa phương có lúc chưa kịp thời. Việc giải quyết ý kiến cử tri và kiến nghị sau giám sát có một số nội dung chưa kịp thời theo kế hoạch; hoạt động tái giám sát còn ít.
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội có nơi chưa thực sự sâu sát cơ sở; vai trò giám sát và phản biện xã hội chưa thể hiện rõ nét; việc phối hợp tổ chức các hội nghị đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân còn chưa thực sự hiệu quả.
2.2. Nguyên nhân hạn chế
- Nguyên nhân khách quan: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện không thuận lợi, giao thông đi lại khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới; địa bàn thường xuyên xảy ra thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu khó lường; kết cấu hạ tầng còn thiếu và yếu. Nhu cầu đầu tư lớn, trong khi nguồn vốn Nhà nước và trong nhân dân còn hạn hẹp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Nguồn lực để thực hiện các chương trình còn hạn chế. Một số cơ chế, chính sách của cấp trên chưa kịp thời, nhất là đối với công tác cán bộ sau sáp nhập.
- Nguyên nhân chủ quan: Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện của một số đơn vị còn hạn chế, chưa thực sự năng động, sáng tạo, thiếu quyết liệt, chưa có nhiều giải pháp đột phá để phát triển kinh tế - xã hội. Ý thức trách nhiệm, chấp hành kỷ luật, kỷ cương của một số cán bộ công chức chưa cao. Công tác kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chưa thường xuyên. Một bộ phận nhân dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa thực sự vươn lên để thoát nghèo. Việc đề ra một số mục tiêu trong các chương trình quá cao, không có khả năng thực hiện.
IV- Một số bài học kinh nghiệm
Một là,Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của các cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; giữ vững truyền thống đoàn kết, thống nhất, phát huy dân chủ trong Đảng, củng cố mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa Đảng với nhân dân; nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Hai là, Thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Bộ Chính trị về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phát huy trí tuệ, sức sáng tạo và tính tích cực, chủ động của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên.
Ba là, Phát huy nội lực, khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương đồng thời tranh thủ thu hút các nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội.
Bốn là, Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc  phòng - an ninh, thực hiện tốt sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; vừa chăm lo phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số vừa quan tâm xây dựng phát triển đô thị; việc đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu phải phù hợp với thực tế.
Năm là, Phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân trong công tác vận động quần chúng thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo sự đoàn kết thống nhất trong hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận trong nhân dân.
Sáu là, Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn, đôn đốc, giúp đỡ cơ sở; phân công nhiệm vụ cho các đồng chí cấp ủy viên đồng hành cùng cơ sở trong quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của nghị quyết đại hội.
Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP NHIỆM KỲ 2020 - 2025
I- Dự báo tình hình trong những năm tới
Tình hình thế giới và khu vực sẽ có những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, nhưng xu hướng chủ đạo vẫn là hòa bình, hợp tác, phát triển. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh; khoa học, công nghệ tiếp tục có bước phát triển mới, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo ra những thay đổi lớn về lực lượng sản xuất và quá trình phát triển, mở ra nhiều cơ hội song cũng không ít khó khăn thách thức đối với đất nước và địa phương chúng ta.
Với thành tựu sau 35 năm đổi mới, nhất là của 5 năm nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thế và lực nước ta không ngừng lớn mạnh. Trong xu thế phát triển chung của cả nước, của tỉnh Cao Bằng, huyện Hà Quảng bước vào giai đoạn mới với những thuận lợi cơ bản như được sự quan tâm đặc biệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã góp phần tinh gọn bộ máy hành chính, tiết kiệm chi ngân sách, tập trung nguồn lực để đầu tư cho huyện phát triển; Hà Quảng là quê hương cội nguồn cách mạng, có Pác Bó lịch sử; nhân dân giàu lòng yêu nước, trung kiên với Đảng, đoàn kết, sáng tạo, cần cù trong lao động, sản xuất; đội ngũ cán bộ, đảng viên có tinh thần đoàn kết, thống nhất cao... Tuy nhiên huyện Hà Quảng vẫn còn gặp không ít khó khăn về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là giao thông đi lại giữa các xã, giữa thị trấn Xuân Hòa và thị trấn Thông Nông; địa bàn rộng; tỷ lệ hộ nghèo còn cao (37,92%); chất lượng nguồn nhân lực chưa cao; tư tưởng, nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế; đường biên giới dài; tình hình an ninh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; việc giải quyết chế độ chính sách, bố trí công tác cho cán bộ dôi dư sau sắp xếp còn gặp nhiều khó khăn...
Song với một số lợi thế của địa phương, với truyền thống quê hương cội nguồn cách mạng cùng với những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua là tiền đề, nền tảng, là động lực to lớn để huyện Hà Quảng tiếp tục vươn lên phát triển mạnh mẽ, toàn diện trong thời gian tới.
II- Mục tiêu phát triển
1. Mục tiêu tổng quát
Phát huy truyền thống quê hương cách mạng, kế thừa, phát huy những thành tựu, kinh nghiệm của nhiệm kỳ 2015 - 2020, khắc phục những hạn chế tồn tại, quyết tâm xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, khơi dậy ý chí khát vọng, sự sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thách thức; huy động mọi nguồn lực, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phấn đấu đến hết năm 2025 huyện Hà Quảng cơ bản thoát khỏi huyện nghèo.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2020 - 2025
2.1. Chỉ tiêu kinh tế
(1) Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2025 đạt trên 29 triệu đồng.
(2) Thu ngân sách trên địa bàn bình quân tăng trên 10%/năm.
(3) Phấn đấu tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 158.000 tấn/cả giai đoạn; giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 39,5 triệu đồng/ha.
- Trong đó:
+ Vùng thấp: 64,8 triệu đồng;
+  Vùng cao: 26 triệu đồng.
(4) Cây công nghiệp ngắn ngày, phấn đấu đến năm 2025
- Thuốc lá: Tổng diện tích 4.500ha, tổng sản lượng đạt 11.477 tấn/cả giai đoạn.
- Diện tích trồng lạc: 3.850ha/cả giai đoạn.
- Gừng trâu: Diện tích 650ha/cả giai đoạn.
(5) Tốc độ phát triển chăn nuôi: phấn đấu đến năm 2025:
- Đàn bò: 20.586 con, tăng bình quân 2%/năm
- Đàn trâu: 13.236 con, tăng bình quân 1,5%/năm
- Đàn lợn: 48.666 con, tăng bình quân 3%/năm
- Tổng đàn gia cầm 289.975 con, tăng bình quân 4%/năm.
(6) Số xã được công nhận tiêu chí nông thôn mới: 04 xã.
 (7) Cải tạo, nâng cấp 40% đường từ huyện đến các xã, 100% xóm có đường ô tô đến trung tâm xã (trong đó 85% được kiên cố hóa); đầu tư xây dựng mới trên 3km đường đô thị.
2.2.Chỉ tiêu văn hóa - xã hội
(8) Duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục các cấp học; mỗi năm có ít nhất 01 trường đạt chuẩn quốc gia.
(9) Đến năm 2025, 100% số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế; giảm tỷ suất sinh bình quân 0,1%/năm
(10) Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng bình quân 1%/năm
(11) Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa 85%; tỷ lệ làng, xóm, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa trên 60%; cải tạo, nâng cấp, xây mới mỗi năm 10 nhà văn hóa; số cơ quan đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá đạt 95%.
(12) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 50%, trong đó đào tạo nghề 40%.
(13) Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 4%/năm. 
2.3. Về môi trường
(14) Nâng độ che phủ rừng đến năm 2025 lên 51,4%.
(15) Phấn đấu 100% số hộ chăn nuôi đưa gia súc ra khỏi gầm sàn ở.
(16) Nước sinh hoạt vùng cao phấn đấu cả giai đoạn đạt 50 lít/người/ngày. 100% hộ dân trên địa bàn có điện sinh hoạt.
2.4. Xây dựng Đảng
(17) Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hằng năm hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 80%; bình quân hằng năm kết nạp mới trên 250 đảng viên.
3. Các nội dung đột phá, chương trình công tác trọng tâm giai đoạn 2020 - 2025
3.1. Nội dung đột phá
(1). Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.
(2). Phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị.
3.2. Các chương trình trọng tâm
(1). Chương trìnhnâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội.
(2). Chương trình tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020 - 2025.
(3). Chương trình phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị; phát triển dịch vụ - du lịch giai đoạn 2020 - 2025.                     
III- Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
1. Phát triển kinh tế
1.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp
Phát triển nông lâm nghiệp toàn diện, vững chắc, khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh các vùng; hình thành các chuỗi liên kết sản xuất hàng hóa thế mạnh của địa phương; tích cực đầu tư chiều sâu; tập trung giải quyết các vấn đề nông dân, nông thôn trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng; duy trì hợp lý diện tích và nâng cao giá trị sản xuất của cây thuốc lá, cây lạc, cây gừng và một số cây trồng có lợi thế trên địa bàn. Tiếp tục triển khai thực hiện xây dựng chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP).
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng áp dụng kỹ thuật vào sản xuất; phát triển hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh các hình thức xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; tiếp tục quy hoạch vùng cho từng loại cây trồng, vật nuôi theo sản xuất hàng hóa tại các xã, thị trấn; phòng chống hiệu quả dịch bệnh và bảo vệ môi trường.
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng các cơ sở chế biến nông sản có quy mô vừa và nhỏ, xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm.
Đẩy mạnh khai thác đất rừng, trồng rừng, phát triển rừng kinh tế, bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, các khu rừng đặc dụng; quản lý và phát huy hiệu quả diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ gia đình; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh tế rừng.Từng bước chuyển dần chăn nuôi nhỏ lẻ, chuyển sang phương thức chăn nuôi trang trại, gia trại; thúc đẩy chăn nuôi theo hướng liên kết, liên doanh và sản xuất theo chuỗi khép kín, trong đó tập trung phát triến chăn nuôi bò, lợn đen. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cho chăn nuôi.
Thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Huy động mọi nguồn lực để phát triển nhanh kết cấu hạ tầng nông thôn, trước hết là giao thông, thủy lợi, trường học, các thiết chế văn hóa, thể thao; phấn đấu đến  hết năm 2025, có thêm 04 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 02 xóm đạt nông thôn kiểu mẫu, các xã đều có thôn, xóm đạt tiêu chí nông thôn mới; xã Lương Can hoàn thành các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới vào cuối năm 2020. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và lao động nông thôn.
1.2. Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
Quan tâm phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở khai thác hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo các yếu tố về môi trường. Tạo mọi điều kiện để các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hoạt động thường xuyên, duy trì những sản phẩm hiện có hướng tới thực hiện chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm gạch không nung và một số sản phẩm khác.
Tập trung phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện, đầu tư mở rộng sản xuất, ứng dụng có hiệu quả khoa học công nghệ, phương thức sản xuất, cải tiến mẫu mã các sản phẩm. Nâng cao chất lượng, tập trung quảng bá các sản phẩm để gắn liền với dịch vụ du lịch.
Đẩy mạnh dịch vụ cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Nâng cao hiệu quả hoạt động các hợp tác xã hiện có; thành lập, phát triển thêm các loại hình hợp tác xã mới. Phát triển khu trung tâm huyện lỵ (thị trấn Xuân Hòa), khu kinh tế cửa khẩu Sóc Giang gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của huyện, các trung tâm cụm xã, dân cư nông thôn. Tập trung cải tạo, nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng. Đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp hệ thống điện, đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng phát triển của nhân dân. Kêu gọi, thu hút đầu tư mọi nguồn lực, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn.
1.3.  Thương mại, du lịch và dịch vụ
Nâng cao chất lượng và phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, tạo bước đột phá trong phát triển dịch vụ du lịch. Mở rộng các loại hình kinh doanh và nâng cao chất lượng thương mại - dịch vụ; phát triển thương mại tại trung tâm chợ huyện và các cụm chợ tại các xã, thị trấn. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhanh các loại hình thương mại, dịch vụ nhất là các siêu thị mi ni tại các hộ gia đình.
Tập trung đầu tư xây dựng thị trấn Xuân Hòa thành trung tâm chính trị, thương mại, dịch vụ phát triển của huyện; xây dựng cơ sở dịch vụ, du lịch, thương mại tại các di tích lịch sử văn hóa đã được công nhận và tại các địa bàn trọng điểm như: khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, thị trấn Thông Nông, cửa khẩu Sóc Giang, trung tâm cụm Nà Giàng, trung tâm cụm Lũng Nặm, Tổng Cọt, Thượng Thôn. Xây dựng mô hình du lịch tại khu vực Bãi Tình xã Thanh Long, thác Nặm Ngùa xã Ngọc Động, làng nghề giấy bản Lũng Quang, thị trấn Thông Nông, làng nghề hương Nà Kéo, xã Trường Hà... và các khu vực trong Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng trên địa bàn. Bước đầu xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng với những yếu tố độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc của huyện.
Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại, tăng cường quan hệ trao đổi giao lưu, thông thương hàng hóa với Trung Quốc, trực tiếp là với hai huyện có đường biên giới tiếp giáp là huyện Nà Po và Thành phố Tịnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc).
1.4. Công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch xây dựng trên địa bàn phù hợp với thực tế, đặc biệt là quy hoạch (mở rộng) trung tâm Thị trấn Xuân Hòa, xã Sóc Hà phù hợp với nhu cầu phát triển, đáp ứng các tiêu chí đến năm 2030 đạt đô thị loại 5. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch và thực hiện quy hoạch.
Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ theo đúng quy hoạch, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội. Phối hợp thực hiện tốt Dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp đường giao thông từ thị trấn Xuân Hòa - thị trấn Thông Nông tạo điều kiện cho việc đi lại của nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Đề xuất chủ trương đầu tư hệ thống đường tránh, đường nội vùng thị trấn Xuân Hòa, đặc biệt là đường tránh thị trấn Xuân Hòa; đường tránh thị trấn Thông Nông; nâng cấp tỉnh lộ 204 đoạn từ thị trấn Thông Nông - lối mở Nà Quân xã Cần Yên; đường giao thông từ huyện Trùng Khánh đến huyện Hà Quảng và đường giao thông từ huyện Hà Quảng sang huyện Bảo Lạc để tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh khu vực biên giới.
Tiếp tục thực hiện các dự án chuyển tiếp, đảm bảo đạt 100% khối lượng trong năm 2020 và các dự án đầu tư công giai đoạn 2021 - 2025. Tiếp tục huy động các nguồn lực để hoàn thành chương trình phát triển thị trấn Thông Nông đạt tiêu chí đô thị loại V miền núi trong thời gian sớm nhất.
1.5. Tài chính, Ngân hàng, phát triển doanh nghiệp và kinh tế tập thể
Thực hiện tốt về công tác quản lý Nhà nước về tài chính. Chỉ đạo quyết liệt các giải pháp thu ngân sách, chống thất thu, tạo nguồn thu ổn định. Quản lý chi ngân sách chặt chẽ, thực hiện các giải pháp tiết kiệm chi để ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tăng cường hoạt động của các ngân hàng, đảm bảo vốn tín dụng phục vụ sản xuất, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và từng bước nâng cao đời sống nhân dân.
Triển khai có hiệu quả các chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực thế mạnh của huyện; thực hiện đồng bộ các giải pháp khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp. Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng, để kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện.
1.6. Tài nguyên - môi trường, khoa học - công nghệ
Quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai; khai thác có hiệu quả quỹ đất, tạo nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng; bảo vệ môi trường sinh thái. Tập trung làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, tạo thuận lợi cho đầu tư phát triển, nhất là cơ sở hạ tầng giao thông, đô thị và các dự án về phát triển du lịch.
Quản lý, bảo vệ chặt chẽ tài nguyên nằm trong Công viên địa chất toàn cầu non nước Cao Bằng. Chú trọng đầu tư các công trình thu gom rác thải, xử lý rác thải. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường.
Đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, thành tựu của cuộc cánh mạng công nghiệp lần thứ tư vào các lĩnh vực của đời sống xã hội nhất là lĩnh vực nông nghiệp.
2. Phát triển văn hóa - xã hội
2.1. Giáo dục và đào tạo
Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tổ chức các hoạt động dạy - học theo hướng đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học. Nâng cao vai trò của các cấp ủy, chính quyền trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối với chất lượng giáo dục. Quan tâm đầu tư xây dựng trường chuẩn quốc gia, trường nội trú, bán trú; duy trì và giữ vững và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục các bậc học; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong giảng dạy và quản lý giáo dục. Chuẩn bị đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu cho chương trình giáo dục phổ thông mới. Tiếp tục bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên sau khi sắp xếp, sáp nhập các đơn vị trường học gắn với tinh giản biên chế đội ngũ cán bộ, giáo viên trên địa bàn huyện. Thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước.
Tuyên truyền, vận động và tổ chức tốt việc học tập suốt đời nhằm phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc; phấn đấu mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và gia đình cán bộ, đảng viên trở thành đơn vị học tập, công dân học tập, gia đình học tập.
2.2. Văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/4/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng nếp sống văn hoá trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục lạc hậu, các tệ nạn xã hội... Đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao cho các xã, thị trấn phù hợp, hiệu quả. Bảo tồn, giữ gìn, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, duy trì và phát triển việc bảo tồn dân ca các dân tộc trên địa bàn huyện; quan tâm đầu tư, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, cách mạng, các xã an toàn khu; khai thác các giá trị di sản văn hóa với quảng bá hình ảnh khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Pác Bó, tuyến công viên địa chất non nước Cao Bằng. Phát triển thể thao toàn dân để tăng cường sức khỏe của nhân dân.
Đổi mới, nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin tuyên truyền. Quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, phát triển mạng lưới viễn thông, nâng cao chất lượng dịch vụ đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt; xây dựng cơ quan điện tử, chính quyền điện tử.
2.3. Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình
Tăng cường đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất Trung tâm Y tế huyện và các trạm y tế xã, nâng cao tay nghề, y đức đội ngũ y, bác sỹ, đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Thực hiện tốt công tác bảo hiểm y tế, kế hoạch hoá gia đình, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và bình đẳng giới.
2.4. Nội vụ, Lao động - Thương binh và xã hội
Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, nâng cao chỉ số cạnh tranh. Quản lý tốt đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; quan tâm thực hiện điều động, luân chuyển công chức, viên chức thuộc thẩm quyền theo quy định đảm bảo hợp lý, hiệu quả; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với công chức lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền, đúng quy trình, có chất lượng. Thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng chuyên đề và hàng năm.
Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, bảo hiểm xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, giảm nghèo nhanh và bền vững. Tăng cường đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động khu vực nông thôn gắn với nhu cầu thị trường. Quan tâm giáo dục, chăm sóc, bảo vệ trẻ em; phòng, chống các tệ nạn xã hội.
2.5. Dân tộc - Tôn giáo
Triển khai có hiệu quả các chương trình, chính sách dân tộc; quản lý các hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật.
Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp ủy đảng trong công tác dân tộc, tôn giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, củng cố vững chắc niềm tin của dân tộc, tôn giáo với Đảng, Nhà nước, tăng cường mối liên hệ giữa cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với dân tộc, tôn giáo vì mục tiêu thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào, củng cố hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Chủ động nắm tình hình, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc.
3. Quốc phòng - an ninh, đối ngoại
3.1. Quốc phòng
Đảm bảo quốc phòng - an ninh vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng - an ninh và giữa quốc phòng - an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại quốc phòng; xây dựng khu vực phòng thủ của huyện ngày càng vững chắc. Tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên. Tiếp tục thực hiện tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và học sinh. Đẩy mạnh tuyên truyền luật nghĩa vụ quân sự, đảm bảo công tác tuyển quân hàng năm đạt chỉ tiêu giao.
3.2. An ninh
Xây dựng lực lượng Công an từ huyện đến cơ sở trong sạch vững mạnh, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, giỏi về nghiệp vụ. Chủ động nắm chắc, dự báo chính xác tình hình, phát hiện, ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Làm tốt công tác an ninh văn hóa - tư tưởng, kinh tế, an ninh nông thôn, tôn giáo, dân tộc; bảo vệ chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục phát động sâu rộng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong các cơ quan, các khu dân cư, vùng đồng bào có đạo, vùng dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thực hiện Đề án điều động Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã.
3.3. Công tác đối ngoại
Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng với ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình hợp tác phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh giữa huyện với huyện Nà Po và Thành phố Tịnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc; duy trì mở rộng đối ngoại nhân dân giữa các xóm, bản biên giới.
4. Công tác xây dựng Đảng
4.1. Công tác chính trị, tư tưởng
Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, đẩy lùi những biểu hiện cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các chi bộ đảng và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội. Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; chủ động đấu tranh ngăn chặn, phản bác kịp thời các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch.
4.2. Công tác tổ chức, cán bộ
Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ của Đảng. Hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh. Thực hiện tốt các quy định và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cá nhân người đứng đầu các địa phương, đơn vị. Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Tiếp tục thực hiện sâu rộng, thường xuyên, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị.
Quan tâm đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động, củng cố, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng đảng viên; duy trì 100% xóm có chi bộ.
4.3.Công tác kiểm tra, giám sát
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Tăng cường nắm tình hình, phát hiện và kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết kịp thời, dứt điểm các đơn thư khiếu nại, tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên theo quy định.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ các cấp trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy ban kiểm tra các cấp; thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa Uỷ ban kiểm tra với các tổ chức đảng và các ngành liên quan; phát hiện, đấu tranh và xử lý kịp thời với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và các biểu hiện tiêu cực khác; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Thường xuyên kiện toàn tổ chức bộ máy Uy ban kiểm tra các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
Ủy ban kiểm tra các cấp tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực, địa bàn nổi cộm, dễ phát sinh tiêu cực; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, những vụ việc phức tạp, dư luận quan tâm; xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đảm bảo nguyên tắc, quy định của Đảng; sự phối hợp giữa cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng và với thanh tra Nhà nước và cơ quan điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tư pháp đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định.
4.4. Công tác dân vận
Thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về công tác vận động quần chúng; củng cố, phát huy khối đại đoàn kết các dân tộc. Tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy, tổ chức đảng, xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác dân vận. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, với cách làm sáng tạo, hiệu quả hướng đến mục tiêu đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của chính quyền các cấp.
Nêu cao tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhất là cơ quan hành chính nhà nước đối với công tác dân vận, trọng tâm là nâng cao chất lượng, phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng. Cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ đảng viên.
Tập trung nâng cao hiệu quả công tác Dân vận trong các cơ quan Nhà nước, phát huy vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành và của cán bộ, đảng viên đối với công tác dân vận. Tăng cường phối hợp, thực hiện tốt Quy chế công tác Dân vận của hệ thống chính trị, quy chế dân chủ ở cơ sở; tích cực đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về công tác dân vận; xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Nắm chắc diễn biến tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân kịp thời tham mưu với cấp uỷ và chủ động triển khai thực hiện chủ trương, giải pháp xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.
4.5. Công tác nội chính Đảng
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của các cấp uỷ đảng đối với công tác nội chính,phòng, chống tham nhũng, nhất là vai trò tiên phong gương mẫu của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Thực hiện và kiểm soát tốt việc kê khai tài sản, thu nhập cá nhân theo quy định. Đẩy mạnh công tác thanh tra, tư pháp, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giữ vững kỷ cương pháp luật; làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng trong giai đoạn mới và chương trình cải cách tư pháp.
5. Hoạt động của chính quyền
Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp. Đa dạng hóa các hình thức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Nâng cao chất lượng các kỳ họp, các hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri và chất lượng các phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân. Tiếp thu và trả lời các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo hướng mở rộng dân chủ, thiết thực và kịp thời. Tổ chức tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Nâng cao hiệu lực quản lý, năng lực chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành theo hướng sâu sát, cụ thể, quyết liệt; cải tiến lề lối làm việc theo hướng thiết thực, hiệu quả. Tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức. Chăm lo đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo điều kiện làm việc và nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền các xã, thị trấn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Chú trọng xây dựng chính quyền điện tử và tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp huyện, coi đây là một trong những khâu đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của huyện trong nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tăng cường công tác thanh tra, tư pháp, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giữ vững kỷ cương pháp luật; xử lý, giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo.
6. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với việc đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục và phát huy vai trò xung kích của thế hệ trẻ; tạo điều kiện cho thanh niên học tập, phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành.Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Phát huy vai trò tích cực của đội ngũ cựu chiến binh, hội người cao tuổi, người có uy tín trong việc tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trên các lĩnh vực: xây dựng nông thôn mới, giải phóng mặt bằng, xóa đói, giảm nghèo... để triển khai thực hiện. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động, đa dạng hóa các hình thức tập hợp, đoàn kết rộng rãi các thành phần xã hội, các tầng lớp nhân dân để tạo ra sự đồng thuận xã hội; kịp thời nắm bắt tình hình, định hướng dư luận trong nhân dân, không để phát sinh những điểm nóng, phức tạp. Tích cực triển khai và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động,khắc phục tình trạng hành chính hóa, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, vận động nhân dân tích cực xây dựng nông thôn mới, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng. Thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với các tổ chức Đảng và cơ quan chính quyền; đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Phát huy truyền thống quê hương cách mạng, kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm của nhiệm kỳ qua với tinh thần "Đoàn kết - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển", Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hà Quảng kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang của huyện đoàn kết một lòng, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, đóng góp sức lực và trí tuệ để xây dựng quê hương Hà Quảng phát triển vững mạnh, toàn diện - xứng đáng với truyền thống quê hương cội nguồn cách mạng, huyện anh hùng.
T/M BAN CHẤP HÀNH
 
PHỤ LỤC
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện
nhiệm kỳ 2015 - 2020 (gộp 2 huyện)

 
1 Các chỉ tiêu Mục tiêu ĐH Kết quả thực hiện Đạt
(tỷ lệ %)
Ghi chú
1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm 7% 7.46 106,6  
2 Thu nhập bình quân đầu người/năm 15 triệu đồng 20,4 136  
3 Giá trị sản xuất nông nghiệp/ha 37 triệu đồng 38,4 104  
Vùng thấp 60 triệu đồng 63,7 106  
Vùng cao 24 triệu đồng 23,8 99  
4 Tổng sản lượng lương thực có hạt 30,780 tấn 30,780 100  
5 Diện tích thuốc lá 650-700 ha 581 83  
Sản lượng 1.500 tấn 2.502,32 166,28  
6 Diện tích trồng ngô hàng hóa 800 ha 934 116,7  
7 Diện tích trồng lạc hàng hóa 700 ha 603 86,16  
8 Trồng rừng kinh tế 500 ha 426,10 85,22  
Nâng độ che phủ rừng 49 50,9 103,88  
9 Tổng đàn gia súc        
Tổng đàn bò mỗi năm tăng 5% 4 80  
Tổng đàn trâu mỗi năm tăng 4% 3,72 93  
Tổng đàn lợn 6% 5 83,33  
10 Thu ngân sách mỗi năm tăng trên 10% 10,51 105,1  
11 Giảm tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm trên 4% 5,22 130,5  
12 Tập huấn, đào tạo nghề mỗi năm 2.500 người 6.695 267,80  
Trong đó tạo việc làm 1.500  người 3.053 203,53  
13 Số hộ được dùng điện lưới quốc gia 100% 99 99  
Số hộ xem truyền hình trên 95% 97 102  
14 Trạm y tế có bác sỹ 21 21 100  
Số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế 21 19 90,47  
15 Nước sinh hoạt vùng cao 50 lít /người/ngày 46 92  
16 Số xã đạt 15 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới 80% 22 28  
Số hộ đưa gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở 80% 48,7 60,88  
Số xóm có đường ô tô, xe máy đến xóm 80% 91,5 114,38  
17 Số hộ đạt gia đình văn hóa mỗi năm 85% 87 102,35  
Làng văn hóa mỗi năm đạt 62.5% 62.5 100  
Cơ quan trường học văn hóa 96% 96,2% 100,21  
Xây dựng nhà văn hóa mỗi năm 10 nhà 44 88  
18 Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng mỗi năm 1,5 - 2%/năm 0,68 45,33  
Giảm tỷ suất sinh mỗi năm 0,3% 0.3 100  
19 Trường đạt chuẩn quốc gia thêm 10 trường 16 160  
Các cấp đều có trường đạt chuẩn quốc gia     Đạt  
Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục và các trường đạt chuẩn quốc gia     Đạt  
20 Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ..   Đảm bảo Đảo bảo  
21 Số cơ sở đảng HTTNV trở lên 80% 89,8% 112,2%  
Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ 85% 95,5% 112,3%  
22 Kết nạp đảng viên mỗi năm 260 338 130%  
Duy trì các xóm đều có chi bộ 100% 100% 100%  
Nâng cao chất lượng  sinh hoạt chi bộ 100% 80% 80%  
 


[1]Công nghiệp, xây dựng từ 12,94% năm 2016lên 18,57%năm 2020; dịch vụ từ 22,12% năm 2016 tăng lên 33,95%năm 2020; nông, lâm nghiệp từ 64,93 % năm 2016 xuống còn 45,49% năm 2020. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm từ 444,648 triệu đồng (2016) đến 2019 chỉ đạt 416,950 triệu đồng.
[2] Năm 2016 tổng đàn gia súc có 83.411 con, trong đó đàn bò có 18.587 con, đàn trâu có 10.442 con, đàn lợn có 54.382 con, đến năm 2019  tổng đàn gia súc có 86.701 con; trong đó đàn bò 19.177 con, đàn trâu 11.231 con, đàn lợn có 56.293 con. 
[3] Tỷ lệ dân cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 97,2%  đạt 96,8% mục tiêu nghị quyết của đại hội. 100% trạm y tế có bác sỹ; 88,8% xóm có nhà văn hóa. Có 6 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí; 09 xã đạt 05 - 09 tiêu chí, bình quân đạt 10,6 tiêu chí/xã.
[4] Thị trấn Xuân Hòa, Quý Quân, Ngọc Đào, Sóc Hà, Trường Hà.
[5]Hồng Sỹ, Mã Ba, thị trấn Thông Nông.
[6] Chợ Thị trấn Thông Nông, Xuân Hòa, Ngọc Đào, Sóc Giang, Trường Hà, Lũng Nặm, Thượng Thôn, Tổng Cọt,Lương Thông, Cần Yên, Thanh Long.
[7] Năm 2015 đạt 2.918 triệu USD, từ năm 2016-2019 bình quân đạt 48,32 triệu USD/năm
[8]Trong nhiệm kỳ, cải tạo nâng cấp, mở mới được 331 km đường liên xã, xóm và 100,57km đường nội đồng, ngõ xóm. Từ năm 2016 đến hết năm 2019,  đã hoàn thành 205 dự án công trình giao thông, với tổng chiều dài 331km, tổng vốn đầu tư 853 tỷ đồng.
 
[9] Đến năm 2019, toàn huyện (cả 3 cấp tỉnh, huyện và xã) có 134/13.655 hộ, chiếm tỷ lệ 0,98% tổng số hộ trong toàn huyện.
[10] Hoàn thành và trả kết quả cho 246 hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất; 528 hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Có 11/11 xã, thị trấn đã xây dựng và ban hành kế hoạch về bảo vệ khoáng sản chưa khai thác và thành lập tổ công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn xã, thị trấn. Trong 5 năm tổ chức đăng ký, xác nhận đề án bảo vệ môi trường đơn giản, kế hoạch bảo vệ môi trường được 36 cơ sở.
[11]HTX Thắng Lợi đầu tư chăn nuôi lợn hương rừng, lợn đen, liên kết với các hộ chăn nuôi tại một số địa phương về cung ứng giống, kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh, bao tiêu sản phẩm; HTX Bảo Hưng thực hiện nuôi lợn theo hình thức công nghiệp mang lại năng xuất, sản lượng cao; Công ty Nông lâm nghiệp Hà Quảng cung ứng giống, hướng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm một số loại cây trồng thế mạnh trên địa bàn huyện, góp phần tăng năng xuất, sản lượng…
[12] Toàn huyện có 79  trường học và  01 trung tâm GDNN- GDTX, 146 điểm trường lẻ; tổ chức sắp xếp lại các đơn vị trường học trên địa bàn huyện giảm 26 trường chính và 90 điểm trường lẻ so với năm 2015, trong đó có 22 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 14 trường so với năm 2015; thành lập  5 trường Phổ thông Dân tộc bán trú; 100% xã, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng.
[13]  Trong nhiệm kỳ đã có 230 em học sinh là con, em các dân tộc của huyện thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học và chuyên nghiệp.
 
[14]Danh hiệu gia đình văn hoá đạt 102%, cơ quan, đơn vị, trường học đạt danh hiệu văn hóa đạt 100%; 90,5% xóm có nhà văn hóa, đạt 108% so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội; trên địa bàn huyện có 06 sân vận động, 08 sân bóng đá mini; 50 sân bóng chuyền; 15 sân bóng rổ; 61 sân cầu lông; 03 sân tenis; 18 câu lạc bộ.
[15]Toàn huyện có 102 đội văn nghệ, 01 câu lạc bộ bảo tồn các làn điệu dân ca; có 11 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, có 19 điểm bưu điện; 19/21 xã, thị trấn có đài phát thanh và hệ thống loa đến các thôn xóm.
[16]Toàn huyện có 155  giường bệnh; có 84 bác sĩ/1vạn dân đạt tỷ lệ 14,1%;có 19/21 xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã; 21/21 trạm y tế xã có bác sỹ. Tỷ lệ dân số tham gia Bảo hiểm y tế đến năm 2019 đạt trên  99,8%. Trong giai đoạn, các cơ sở y tế tổ chức khám chữa bệnh trên 206.000 lượt người; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng và uống vác xin đầy đủ hằng năm đạt trên 90%; giảm tỷ suất sinh mỗi năm từ 0,35 (năm 2015) xuống 0,30‰ (năm 2019), đạt mục tiêu nghị quyết Đại hội.
[17]Sáp nhập bộ phận sự nghiệp Phòng Văn hóa - Thông tin và Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện thành Trung tâm Văn hóa - Truyền thông huyện; Trạm chăn nuôi - Thú y thuộc Chi cục chăn nuôi, Trạm Trồng trọt và bảo vệ thực vật thuộc Chi cục bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông - Khuyến lâm huyện thành Trung tâm dịch vụ nông nghiệp trực thuộc UBND huyện.Thực hiện Nghị quyết số 864 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên địa bàn huyện có 18 xã sắp xếp thành 9 xã.
[18]Trong nhiệm kỳ đã giới thiệu việc làm cho 3.398 lao động trong nước; xuất khẩu lao động 20 người; mở được 27 lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn với  9.000 người, đạt 150%KH; tỷ lệ lao động qua đào tạo bình quân hàng năm đạt 6%; tạo việc làm mới cho 2.754 lao động. Tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm 5,22%/năm (từ 59,02% năm  2016 với 7.729 hộ đến cuối năm 2019 còn 37,92% với 2.551 hộ thoát nghèo, vượt mục tiêu Đại hội)
 
 
[19]Trong  nhiệm  kỳ có 2.529 đồng chí được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng đối tượng  4;  có 77 đồng chí được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng đối tượng  3 và 09 đồng chí  được được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng đối tượng 2.
[20] Tổ chức tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên và nhân dân từ huyện đến cơ sở: Cấp huyện tổ chức 14 hội nghị, trên 1.200 lượt người nghe; cấp cơ sở tổ chức 317 hội nghị, trên 18.802 lượt người nghe, phổ biến trong nhân dân hơn 9.800 lượt người nghe. Tuyên truyền về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phổ biến kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm, các mô hình sản xuất  được 176 cuộc với 32.924 lượt người nghe. Tuyên truyền về các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao nâng cao đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của nhân dân (676 băng rôn, 105 cuộc tuyên truyền bằng xe lưu động, 393 buổi chiếu phim, tổ chức 126 buổi văn nghệ với trên 31.000 người được xem, xây dựng 1.267 tin, 660 bài. Tuyên truyền về chăm sóc sức khoẻ, dân số kế hoạch hoá gia đình  được 77 cuộc, 6.083 cán bộ, hội viên tham gia. Tuyên truyền về công tác giáo dục, đào tạo; công tác quản lý tài nguyên môi trường được 173 cuộc, 4.374 người tham gia. Tuyên truyền công tác giảm nghèo (tổ chức 40 Hội nghị với 5.900 người tham gia).
[21]Từ năm 2016 - 2020 có 41 tập thể, 98 cá nhân được các cấp biểu dương, khen thưởng; 100% các chi, đảng bộ xây dựng bản đăng ký làm theo Bác; 21/21 xã, thị trấn bổ sung việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào quy ước thôn, xóm.
[22]Trong  nhiệm  kỳ đã kiện toàn cấp ủy đối với 115 lượt tổ chức cơ sở đảng;  giải thể, chia tách, sáp nhập, thành lập mới 55 chi, đảng  bộ cơ sở; đến nay, Đảng bộ huyện có 54 chi đảng bộ trực thuộc 276 chi bộ dưới cơ sở. Kết nạp được 1.693/1.300 đảng viên mới, đạt 130,2% chỉ tiêu đại hội đề ra. Đến 30/6/2020, Đảng bộ huyện có 7.341 đảng viên, chiếm 12,44% dân số của huyện. Thực hiện điều động, luân chuyển 132 cán bộ; đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử 378 cán bộ trong đó 74 cán bộ cấp huyện, 304 cán bộ cấp xã; số cán bộ được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại là 62 đồng chí (bổ nhiệm 44, bổ nhiệm lại 18).
Trong nhiệm kỳ đã cử đi đào tạo sau đại học 11 đồng chí, đại học 104 đồng chí, cao cấp lý luận chính trị  34 đồng chí; cử đi đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho 45 đồng chí tại tỉnh, phối hợp mở lớp 05 lớp trung cấp chính trị tại huyện với 360 cán bộ tham gia.
 
[23] Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 01 tổ chức đảng và 03 đảng viên; tiến hành giải quyết đơn thư tố cáo đối với 30 trường hợp; giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với 02 trường hợp; giám sát được 88 đảng viên và 46 tổ chức đảng; kiểm tra 11 tổ chức đảng về thu chi ngân sách; kiểm tra 11 tổ chức đảng và 120 đảng viên về thu, nộp, quản lý, sử dụng đảng phí; thi hành kỷ luật 15 đảng viên (khai trừ 8; cảnh cáo 3; kiển trách 4).
[24]1- Chương trình số 11-CTr/HU, ngày 15/6/2016  của Huyện ủy Thông Nông về phát triển thị trấn Thông Nông theo tiêu chí đô thị loại V miền núi, giai đoạn 2016 - 2020.
2- Chương trình số 12-CTr/HU, ngày 15/6/2016 của Huyện ủy  Thông  Nông về phát triển giao thông nông thôn, giai đoạn 2016 - 2020.
3- Chương trình số 13-CTr/HU, ngày 15/6/2016 của Huyện ủy Thông Nông về phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2016 - 2020.
4- Chương trình số 14-CTr/HU, ngày 15/6/2016 của Huyện ủy Thông Nông về Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2016 - 2020
5- Chương trình số 15-CTr/HU, ngày 15/6/2016 của Huyện ủy Thông Nông về Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ, giai đoạn 2016 - 2020.
6- Chương trình số 10-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện uỷ Hà Quảng về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở giai đoạn 2016 - 2020
7- Chương trình số 11-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy Hà Quảng về di dời chuồng trại gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở giai đoạn 2016 - 2020
8- Chương trình số 12-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy Hà Quảng về nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi mũi nhọn giai đoạn 2016 - 2020.
9- Chương  trình  số 13-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy  Hà Quảng về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020
10- Chương trình số 14-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy  Hà Quảng  về phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2016 - 2020.
11- Chương  trình  số 15-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy  Hà Quảng về phát triển dịch vụ, du lịch giai đoạn 2016 - 2020
[25]Tổng sản lượng lương thực có hạt (99,53); diện tích thuốc lá (83%), diện tích lạc hàng hóa (86,16%), tổng đàn gia súc (trên 80%), số hộ được dùng điện lưới quốc gia (99%), nước sinh hoạt vùng cao (92%), số xã đạt 15 tiêu chí về xây dựng NTM (28%), tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (45,33%).
[26]Chương trình số 11- CTr/HU, ngày 15/6/2016 của Huyện ủy Thông Nông về phát triển thị trấn Thông Nông theo tiêu chí đô thị loại V miền núi, giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình số 12- CTr/HU, ngày 15/6/2016 của Huyện ủy  Thông  Nông về phát triển giao thông nông thôn, giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình số 13-CTr/HU, ngày 15/6/2016 của Huyện ủy Thông Nông về phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình số 11-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy Hà Quảng về di rời chuồng trại gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình số 12-CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy Hà Quảng về nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi mũi nhọn giai đoạn 2016 - 2020; Chương  trình  số 15- CTr/HU, ngày 19/7/2016 của Huyện ủy Hà Quảng về phát triển dịch vụ, du lịch giai đoạn 2016  - 2020.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
DDHCM
Xây dựng nông thôn mới
Báo Cao Bằng Online
Cao Bằng Portal

Thống kê truy cập

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 16

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 14


Hôm nayHôm nay : 1493

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 67023

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4334368